1. Vì sao ít người luyện khí thành công
Hiện nay, rất nhiều môn phái võ thuật, thiền, khí công, yoga ...etc... phổ biến trong quần chúng, trong sách vở và trên Internet.
Nhưng khi hỏi những người tập những môn kể trên xem họ đạt được những thành tựu gì, thì thường được trả lời là "Tôi cảm thấy thế lọ, tôi càm thấy thế chai", chứ ít ai phát biểu một cách cụ thể, đo đếm được bằng thiết bị hay quan sát ra được thành hành động thực tế xem họ làm được những cái gì, chữa được bệnh gì hay khoẻ lên rõ ràng như thế nào về mặt nhịp tim, huyết áp, cơ thể ..etc.. so với trước khi tập khí công hay tập thiền.
Bên cạnh đó, cũng có những người nhờ tập luyện mà chữa khỏi những bệnh hiểm nghèo, như bác sĩ Nguyễn Khắc Viện tập khí công chữa khỏi bệnh lao phổi, ông nội tôi tập Yoga chữa khỏi nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não. Năm đó ông nội tôi gần 70, bị nhồi máu cơ tim đến lần thứ ba, tai biến mạch máu não liệt nửa người bên trái. Sau đó ông nội tôi tập Yoga, bao gồm đủ cả ba phần là Dhyana, Pranayama và Asana, vậy mà khỏi hẳn. Đến sau này, năm 91 tuổi, ông nội tôi còn làm được những động tác mềm dẻo mà tôi lúc đó còn là thanh niên, ăn tập tử tế mà vẫn không làm được. Tôi tập khí công chữa khỏi bệnh hen suyễn kinh niên năm 11 tuổi.
Vậy đâu là sự khác biệt giữa tập khí công có thành tựu và tập "cảm thấy"?
Nói sơ lược về Khí công, các bạn có thể đọc ở đây:
Viết năm 1990: Luận bàn về Ý và Khí trong Võ học (3 dưới đây)
Viết năm 2013: Khí công - Sự thật và những điều ngộ nhận (2 dưới đây)
Chú ý: Khí, viết theo tiếng Hán, không phải là không khí mà là năng lượng, như từ khí trong Điện khí hoá, Cơ khí hoá ...etc...
Nói đơn giản, các bài tập về khí công phổ biến hiện nay chỉ là các bài dẫn khí (năng lượng) chạy theo các kinh mạch (kênh năng lượng) trong cơ thể.
Để dẫn được khí, đầu tiên là phải có khí. Điều này cũng tương tự như bạn muốn bơm nước trong một hệ thống ống nước, thì đầu tiên phải có nước trong ống đã. Vì các lý do này nọ trong lịch sử, các bài tập về vận khí, đưa chân đưa tay hay ngồi dẫn khí được phổ biến rất nhiều, nhưng phần đầu tiên là làm gì để có khí (tụ khí, nạp khí) thì thường bị giấu đi.
Vì thế nên các thầy dạy võ thời xưa khi dạy võ thì ngoại trừ phần tụ khí, nạp khí, họ đều dạy đầy đủ hết, Đến lúc tìm được truyền nhân đắc ý rồi, họ chỉ cần chỉ thêm phần nạp khí, là tự nhiên người học trò đó tập có kết quả hơn rất nhiều bậc so với những người khác. Trong khi đó thì những người khác cứ giơ tay múa chân, ngồi thiền, trạm trang hì hục từ ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác mà chả có kết quả gì.
Phần tụ khí, nạp khí thường lại là môt vài động tác rất đơn giản, không mất nhiều thời gian, nhưng nếu không có người chỉ thì không ai biết. Mà những người được chỉ rồi thì vì thấy nó đơn giản, đôi khi còn ngớ ngẩn quá, không biết có thực hư thế nào, có được tích sự gì không. Do đó hoặc là họ không tập theo, hoặc là tập theo ít buổi, rồi lại theo tư duy chủ quan của mình thêm thắt, điều chỉnh cho (có vẻ) hay hơn, hoặc tập ít buổi rồi bỏ. Tất cả những người hành động theo lối đó đều không đi đến đâu cả.
Ngày nay, chúng ta thường thấy những người ốm sắp chết hay thể trạng ốm yếu tập Yoga hay khí công khỏi bệnh, chứ ít khi thấy người khoẻ mạnh nào nói tôi tập khí công ra cái tích sự gì. Lý do là người tập mà không có động lực thì thường thiếu nghiêm túc, tập mấy hôm cho có, cho vui, không thấy gì thì thôi, trong khi đó, khí công đòi hỏi một sự tập luyện nghiêm túc, đều đặn, quan trọng nhất là đều đặn, công phu theo ngày tháng.
Tóm lại, lý do những người tập khí công, thiền, Yoga mà chỉ có "cảm thấy", không có thành tựu gì đo đếm được, không chữa được bệnh thì chỉ do một trong các lý do sau đây:
- Không có phương pháp tập tử tế. Mà quan trọng nhất là không có phần tụ khí, nạp khí.
- Tập luyện không chặt chẽ theo phương pháp, mà sau khi tập ít lâu thì tự động điều chỉnh tư thế, động tác, tập nhiều thêm (NGUY HIỂM NHẤT là TẬP NHIỀU THÊM).
- Tập không đều đặn hàng ngày.
- Không kiên trì, tập ít lâu rồi bỏ.
- Quá cuồng tín vào một phương pháp mà bỏ các phương pháp khác.
Tuỳ theo cơ địa, tâm tính từng người, sẽ có phương pháp phù hợp với người này hơn so với người kia. Thường là tập nghiêm túc, bài bản, chính xác, đều đặn trong vòng một năm mà không có thay đổi về mặt cơ thể, tim mạch, huyết áp, thể lực trong phạm vi có thể đo được bằng máy móc, thì nên chọn một phương pháp khác. Nhưng không nên thay đổi phương pháp loạn xạ trước khi thử trong vòng một năm.
San Francisco, September 14, 2014
2. Khí công - Sự thật và những điều ngộ nhận
Mục đích bài viết này: Tôi là người tập khí công từ nhỏ, với mục đích trị bệnh hen suyễn và đã khỏi hoàn toàn. Phương pháp này tôi học của một người quen với ông nội tôi, tôi gọi bằng chú. Chú không nhận làm thầy tôi, và không muốn nói tên, nên tôi không nói, chứ không phải chối bỏ nguồn gốc.
Thời gian gần đây, tôi nhận ra nếu không nói rõ bản chất của khí công, thì người bình thường sẽ nhắm mắt chối bỏ nó một cách mù quáng, bỏ qua một phương pháp duy trì sức khoẻ một cách hiệu quả, bồi đắp đến tận gốc rễ của cơ thể. Vì thế, tôi viết bài này nhằm mục đích giải thích trực tiếp thông qua kinh nghiệm tu tập bản thân. Hy vọng những bạn đọc có quan tâm đến vấn đề này sẽ có cái nhìn rõ ràng hơn về bản chất của khí công và việc tập khí công.
Đây là bài giải thích sơ lược về bản chất của khí công, chứ không nói về phương pháp tập.
I. Một vài điều cơ bản về khí công
Bài tập khí công sơ cấp thực ra rất đơn giản, sách vở và phim ảnh nói đầy rẫy, trên Internet cũng có. Vì thế đây là một bài viết ngắn gọn tôi viết theo như tôi hiểu, viết ra các định nghĩa này theo kinh nghiệm và trực giác của mình (chưa chắc đã chính xác 100%, nhưng ít nhất là có kiểm chứng). Lý do tôi làm thế vì:
- Đa số các thầy từ xưa nói về khí đều dùng thứ ngôn ngữ Đạo gia hay Phật gia huyền bí.
- Sau thế hệ các cao thủ khí công thực sự, thì các thầy thuộc về thế hệ sau chủ yếu là tập theo động tác, kinh nghiệm của thế hệ trước theo kiểu cầm tay chỉ dạy, ít chịu học nguyên lý, vì thế lý luận khí công thường là lệch lạc, chắp vá và không kiểm chứng bằng thực tế được.
- Đa số các sách dạy khí công thế hệ sau này toàn là nói láo, lẫn lộn nhập nhằng khí, không khí, máu, oxygen ...etc.., lập lờ đánh lận con đen, cố gắng giải thích khí công bằng y học phương Tây, nhưng thực ra hai thứ đó không phải là một.
Những thứ lý luận loằng ngoằng, cao siêu về Ý và Khí người ta viết chán rồi. Hồi tôi 18 tuổi cũng có viết một bài, giờ đọc lại thấy hơi buồn cười, mặc dù cũng không có sai sót gì nghiêm trọng, ít nhất là hơn mấy bố viết sách khí công bán lấy tiền bây giờ ở Việt nam: Luận bàn về Ý và Khí trong võ học
Vì thế, ở đây tôi diễn giải đơn giản theo cách hiểu của tôi. Khí, viết theo tiếng Hán, không phải là không khí mà là năng lượng, như từ khí trong Điện khí hoá, Cơ khí hoá ...etc...
Năng lượng này ở đâu mà có? Trong Đạo gia, người ta tin rằng khi con người ta sinh ra từ cơ thể người mẹ, thì trong người đã có năng lượng thừa hưởng từ người cha và người mẹ, và từ trong trời đất, gọi là năng lượng tiên thiên. Về sau khi con người ta hít thở, ăn uống tạo nên năng lượng cho mình để lớn lên và phát triển thì gọi là năng lượng hậu thiên. Trong sách về khí công hay truyện chưởng thường viết đó là Tiên thiên chân khí và Hậu thiên chân khí. Phật gia khi truyền từ Ấn Độ sang Trung quốc cũng bị ảnh hưởng bởi tư tưởng này. Phật giáo ở Ấn Độ bắt nguồn từ đạo Hindu thì tư tưởng có khác biệt rõ rệt. Đây chính là lý do các phương pháp tập Yoga, nội lực của Ấn Độ và Phật giáo truyền từ Ấn Độ lên Tây Tạng (Mật tông) hoàn toàn khác biệt với các phương pháp tập của Trung quốc.
Khí công Đạo gia và Phật gia tin rằng năng lượng tiên thiên của con người là năng lượng thuần khiết nhất, và có mạch nối liền với vũ trụ, nên người tập khí công phải tìm cách bảo trì năng lượng tiên thiên, năng lượng hậu thiên chỉ có vai trò duy trì và bù đắp những mất mát trong quá trình con người phát triển. Chính vì thế nên khí công Đạo gia và Phật gia mới chủ trương giữ gìn tinh khí, luyện đồng tử công, bế dục hoặc hạn dục để duy trì năng lượng ở mức cao và tập thành cao thủ.
Luyện khí theo kiểu Đạo gia hay Phật gia Trung quốc là tích luỹ khí (năng lượng), cố bản bồi tinh (tìm cách tránh thất thoát năng lượng tiên thiên, bồi bổ bằng năng lượng hậu thiên thông qua ăn uống, hít thở). Sau đó quá trình luyện tinh hoá khí là dùng các động tác luyện tập khí công kết hợp với hơi thở để biến đổi tinh (vật chất) thành khí (năng lượng), đồng thời thay đổi về chất cấu trúc của cơ thể.
Tinh ở đây nên hiểu là những tinh hoa vật chất của cơ thể, hoặc là do sinh ra có sẵn một ít, hoặc là do quá trình trao đổi chất, ăn uống hít thở của cơ thể tạo nên. Từ tinh hoa vật chất này, mới sinh ra năng lượng, da, thịt, tóc v.v...
Chính vì Khí được chuyển hóa từ tinh chất này nên nếu luyện Khí quá mức hay luyện nhiều lần thì nó phải rút tỉa tới những tinh chất có sẵn trong cơ thể như tủy sống, do đó sinh ra suy nhược hoặc bất lực là như vậy.
Khi tinh không bị thất thoát, khí được tích luỹ đầy đủ thì thần (tinh thần) của con người sẽ được nâng lên một tầm cao mới. Lúc đó ý chí con người trở nên kiên định, khả năng hoạt động của não cao, cơ thể khoẻ mạnh nên con người có thể làm nên những kỳ tích mà đối với người thường là phép lạ.
Tôi không muốn nói ví dụ cụ thể về bản thân về những gì tôi đạt được khi tập khí công. Hy vọng là riêng chuyện tôi chữa khỏi bệnh hen suyễn kinh niên rất nặng của mình cũng nói lên được điều gì.
Đoạn trên là tóm tắt của Luyện tinh hoá khí, Luyện khí hoá thần. Tôi chưa qua các mức khác nên không dám nói.
II. Những ngộ nhận về tập khí công:
1. Tập khí công khó khăn, huyền bí:
Khí công về mặt bản chất không có gì khó khăn, huyền bí cả. Cách tập ở mức cơ bản chỉ là dùng hơi thở hoà hợp với vận động của cơ thể, kích thích, co nén nội tạng, nhận biết được hơi thở và vận động, đồng thời luyện lắng nghe cảm giác của mình đối với nội tạng.
Con người ta từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, hầu như ai cũng tập thể dục, lao động tay chân, cơ bắp, nhưng không luyện nội tạng. Do đó nội tạng cứ hoạt động qua tháng ngày rồi chết, không được luyện tập. Luyện khí công chính là luyện nội tạng.
Nói thì huyền bí, nhưng bước đầu tiên, cơ bản thì chính là tập thở, ai cũng tập được.
2. Tập khí công mất thời gian:
Khi nói đến tập khí công, đa số người bình thường nghĩ đến ngồi thiền, quán tưởng, thở hít phì phò, khua tay khua chân hàng tiếng đồng hồ.
Mức cơ bản tập khí công của tôi cho đến khi chữa hoàn toàn bệnh hen suyễn là mỗi ngày luyện 6 hơi thở. Lúc hơi thở ngắn, thở ra 10 giây, hít vào 10 giây là 20 giây một hơi thở ra hít vào, tổng cộng 6 lần thở ra hít vào là 20 giây x 6 = 120 giây = 2 phút.
Sau này hơi thở tôi dài ra 1 phút rưỡi một lần thở ra hít vào, thì 6 hơi thở mất 3 phút x 6 = 18 phút. Nhưng đó là tôi tập thêm phần kinh mạch về sau, còn người bình thường tập bài khí công như tôi từng tập thì hiếm có ai mất quá 4 phút một ngày.
Tất nhiên tập khí công trong võ thuật thì lại khác nữa, ví dụ như có lời đồn tôn sư Diệp Vấn tập bài Tiểu Niệm đầu mất từ 45 phút cho đến 1 tiếng. Chuyện này thật giả không biết, chứ cá nhân tôi luyện riêng phần tụ khí (là phần 1 trong 3 phần tụ khí, xả khí và dụng khí của bài Tiểu Niệm đầu) là đã mất hơn 30 phút.
Thời cổ đại người ta dùng cưa tay, cưa cây cổ thụ hết mấy ngày. Giờ ta dùng cưa máy, cưa cây cổ thụ một phát là đứt, nên chuyện tập khí công ngày mấy tiếng chỉ có ở thời Xuân Thu Chiến quốc, chứ vào thời cuối Thanh, đầu Dân quốc, nghiên cứu về Đạo gia Khí công đã tương đối hoàn chỉnh, con em quý tộc vùng An Huy, Phúc Kiến Trung quốc đến sau 17 tuổi là hoàn thiện toàn bộ phần luyện tinh hoá khí. Những kỹ thuật còn truyền về sau này, công năng là tính bằng phút, chứ không tính bằng tiếng đồng hồ nữa.
Tập khí công cho sức khoẻ thì rất ít ai cần tập hơn 4 phút một ngày, mà thậm chí là không nên luyện hơn 4 phút một ngày, lý do tôi sẽ giải thích tiếp ở dưới.
3. Tẩu hoả nhập ma khi tập khí công:
Nhiều người cả đời chả bao giờ đọc một sách khí công, đông y nào nghiêm túc, chưa từng gặp một ai có tập qua khí công, chỉ đọc truyện chưởng, nhưng khi nói đến khí công thì hễ mở mồm ra là phán y như đúng rồi.
Luyện khí công rất dễ, nhưng chính vì nó quá dễ nên ít người chịu nghe dặn dò và làm theo cái dễ đó một cách nghiêm túc, mà đa số là xảy ra một trong hai trường hợp sau:
- Thấy dễ quá, tập chơi cho biết, tập dăm bữa nửa tháng không thấy gì rồi bỏ. Trường hợp này là còn tốt.
- Thấy dễ quá, tập nhẹ quá, không thấy mệt, nên tăng liều lượng tập lên. Ví dụ như nhiều người tập trong khoảng thời gian mấy tháng đầu tiên, căn cơ chưa vững, không thấy gì, nghĩ là tập hít vào thở ra 6 lần chưa ngon, tăng lên 12 hơi thở chắc ngon hơn.
Đây chính là nguyên nhân gây hại khi tập khí công. Thời gian ban đầu chính là thời gian để luyện tinh hoá khí, tức là luyện vật chất của cơ thể ra năng lượng. Nếu cơ thể sinh ra vật chất không kịp, thì quá trình này sẽ luyện vào nguyên tinh cốt lõi của cơ thể. Cá nhân tôi đã quan sát được hai người bị rối loạn huyết áp và nhịp tim khi tập quá độ trong một thời gian dài. Họ tập vài tháng đầu không thấy gì, sốt ruột muốn nhanh, tập tăng cường độ và bị ảnh hưởng ngay. Có một người cũng tập như vậy, và bị giảm khả năng hoạt động sinh lý.
Nhưng tập đúng trong khuôn khổ, thì khí công sẽ bồi đắp căn cơ, cốt lõi và nội tạng của cơ thể, làm cho cơ thể khoẻ mạnh và hoạt động hiệu quả hơn.
Vì thế Đạo gia mới nhấn mạnh vào "Dục tốc bất đạt" và "Hữu sở cầu tất hữu sở thất". Theo kinh nghiệm cá nhân tôi và quan sát nhiều người tôi hướng dẫn trong vài chục năm nay, rải rác ở Việt nam, Đức và Mỹ, thì chỉ cần cẩn thận, nghiêm túc tập đúng 6 hơi thở, chứ Không Phải là 5 hơi, 7 hơi hay 12 hơi, thì sẽ có kết quả khi tập đủ ngày tháng (9 tháng - 1 năm), chứ không có vấn đề gì. Hôm trước ngồi chơi với một cậu bạn có kinh nghiệm nghiên cứu Dịch số, Phong thuỷ, cũng có nói về hồi trước cậu ấy đi tập Thiền, người thầy cũng nói về chuyện củng cố căn cơ bằng 6 hơi thở. Có lẽ để ra được con số 6 này, cũng phải tốn nhiều mạng tôn sư, "tẩu hoả nhập ma" mất nhiều người rồi thì mới đúc rút ra được.
Nhưng theo cá nhân tôi, cứ tà tà mà tập, đừng mong cầu, sốt ruột, đúng ngày đúng tháng sẽ có kết quả. Quan trọng nhất là ngày nào cũng phải tập, công phu là cần đều chứ không cần nhiều.
4. Khí công cao là võ thuật cao:
Đây là một ngộ nhận nguy hiểm. Khí công là luyện nội tạng bên trong. Nó trợ giúp cho vận động và việc sinh ra năng lượng, lực của cơ thể. Nhưng để đem ra đánh người thì gân cơ bên ngoài cũng phải bền chắc để chịu va đập, phải có ý thức về quyền cước qua lại thì mới đánh người được.
III. Tóm tắt vấn đề:
Luyện khí công không khó khăn, huyền bí, cũng không tốn thời gian. Người thông thường chỉ cần luyện từ 2 đến 4 phút một lần tập, mỗi lần tập chỉ thở 6 hơi thở hít vào + thở ra, mỗi ngày tuyệt đối không nên tập quá 2 lần.
Tập khí công chỉ cần đều, ngày nào cũng tập. Nên chọn một cữ nhất định để tập, ví dụ hôm nay mình tập buổi tối thì hôm sau cũng tập buổi tối, cứ thế kéo dài mãi hàng tháng, hàng năm, thời điểm có thể xê xích, nhưng đừng xê xích nhiều quá.
Người xưa có tổng kết về 4 thời điểm có thể chọn để tập khí công tốt nhất trong ngày, nhưng tôi không nói cho khỏi loãng. Hơn nữa thời hiện đại, mấy ai làm chủ hoàn toàn giờ giấc, nên miễn đúng cữ, đừng xê dịch quá, ví dụ đừng có hôm thì tập tối, hôm thì tập trưa, hôm thì tập sáng, thế là được.
Tập khí công nếu làm đúng số lần, không nhiều hơn, không ít hơn thì không có nguy hiểm. Nhưng những người tôi quan sát qua hàng chục năm nay thì hễ tập không đều hoặc ít hơn là không kết quả, còn những người cố tập tăng cường độ lên, thì TOÀN BỘ đều bị bệnh và có vấn đề tim mạch, huyết áp, sinh lý.
Tập khí công dễ, chính vì dễ mà không ai làm, hoặc làm theo mà không nghiêm túc. Theo quan điểm cá nhân của tôi, thì như thế cực kỳ có hại. Hại nhẹ nhất là trong vòng mấy tháng tự nhiên mỗi ngày mất mấy phút làm một việc vô tích sự. Hại nặng nhất là bệnh tật.
Nhưng trong đời cái gì cũng thế thôi, ít quá hoặc nhiều quá đều có hại. Quan trọng nhất là theo cái dễ mà làm đều đặn hàng ngày trong mức vừa đủ.
Hiện nay sách vở, tài liệu khí công nhiều, người tập khí công cũng nhiều. Vì thế khi chọn phương pháp tập, thầy tập thì nhớ quan sát hai điều:
- Người thầy, phương pháp có lý luận rõ ràng, hợp lý hay không.
- Người thầy, người viết sách có thành tựu gì, kết quả gì không.
Hai điều trên không có thì chính là nói láo, không nên tập. Phải có đủ cả hai. Thậm chí kể cả nếu người thầy có làm được một số kỳ tích, nhưng không giải thích được thì mình cũng không nên tập theo, vì sẽ không biết là có ảnh hưởng phụ gì hay không.
Khí công, cũng như cơm nước hàng ngày, ai tập thì người đấy khoẻ, ai ăn người đấy no, không tập giúp, ăn giúp được. Mỗi người nếu có quan tâm thì nên tìm hiểu nghiêm túc và chọn con đường cho chính mình, tập luyện kiên nhẫn, nghiêm túc và không nóng vội. Còn nếu không, thì không nên tập, vì vừa lãng phí thời gian, vừa có thể gây hại cho sức khoẻ.
Los Angeles, December 18th, 2013
Luận bàn về Ý và Khí trong Võ học
Từ ngàn xưa, trên các nước Ấn độ, Trung Hoa và Nhật bản đã lưu truyền các truyền thuyết về các yogi (pháp sư yoga) và các võ sư đã làm nên những công phu đặc dị. Ngay trong thế giới hiện nay, chúng ta cũng được chứng kiến những kỳ công của con người như võ sư Hohen Soken thuộc môn phái Karate Bạch hạc của đảo Okinawa có thể khinh công đi quyền trên một tấm ván mỏng thả nổi trên mặt nước. Những người tập yoga có thể chôn dưới đất hàng tháng trời vẫn khỏe mạnh bình thường. Ngay tại Việt nam, chắc phần lớn các bạn yêu thích võ thuật đều nghe danh võ sư Hà Châu, người đã dùng tay nắm hai chiếc xe đò đầy khách làm chúng không chạy được. Ông còn chịu được sức nặng của chiếc xe lu 12 tấn lăn qua người.
Vậy đâu là sức mạnh để tạo nên những kỳ công phi thường đó ? Mọi chuyện thoạt nhìn có vẻ huyền bí, nhưng thực ra có thể giải thích khá đơn giản : Đó là sức mạnh của Ý và Khí.
Để hiểu được vấn đề này, chúng ta phải tìm về căn nguyên tối cổ của triết học Cực Đông : Lý thuyết nhất nguyên phân cực của thuyết Âm-Dương. Lý thuyết này có một động lực hữu cơ, mà nếu chúng ta dùng cách phân tích để suy tầm nó, sẽ không thể nào thấy được.
Triết học Cực Đông quan niệm rằng vũ trụ là sự chấn động của hai hoạt động Âm và Dương và những sự tuần hoàn của nó. Cái sinh ra và tổng hợp nên vũ trụ được người Trung Hoa gọi là Thái cực, người Aán độ gọi là Cũnyatâ, người Nhật gọi là Kù (Aiki), dịch nghĩa không phải bằng mặt chữ, mà bằng nghĩa của Triết học là "bản chất" hay "vũ trụ tinh khí tiền phân cực", khi nó phân cực phát sinh ra vũ trụ và vạn vật. Người ta chỉ có thể hiểu được Thái cực bằng trực giác, chứ không ngôn ngữ nào có thể miêu tả được, vì ngôn ngữ là quy ước của con người, còn Thái cực là nguồn gốc phát sinh và bao trùm lên tất cả. Đại khái có thể diễn tả Thái cực như một thể thống nhất, vô cùng, vô tận, vô thủy, vô chung. Trong Thái cực không có khái niệm nóng-lạnh, không có độ xa-gần không gian, không có sự lâu-mau thời gian, không có đứng yên, không có chuyển động… Thái cực là một uy lực uyên nguyên tự tại, thường hằng, vĩnh cửu. Chỉ sau khi phân cực tạo thành vũ trụ, các khái niệm nhị nguyên nóng-lạnh, xa-gần, đứng yên-chuyển động mới hình thành.
Trong bài viết này, chúng ta không quan tâm đến khía cạnh triết học, mà chỉ luận bàn về Thái cực với vai trò là nguồn gốc sức mạnh phi thường và công phu đặc dị trong võ học. Thái cực là sự phát sinh, là nguồn gốc của tất cả nên sức mạnh của Thái cực là vô cùng. Mỗi con người chúng ta đều là một phần của Thái cực, đều mang trong mình sức mạnh của Thái cực. Đó là sức mạnh chân chính và siêu đẳng. Nhưng khi sống trong cuộc đời, mối liên hệ giữa Thái cực và con người bị bản năng, nhận thức, vật chất và vô vàn những điều khác đè nén, chồng chất, làm cho bị chìm lấp dưới lớp bụi thời gian. Do đó, giữa vũ trụ bao la rộng lớn, con người cảm thấy mình nhỏ bé và yếu ớt. Thật ra họ chưa sử dụng hết khả năng của mình. Con người cần phải tìm lại mối liên hệ của mình với Thái cực, để sử dụng được sức mạnh đích thực của mình.
Vậy chìa khóa để mở ra sức mạnh Thái cực của con người là gì ? Và tìm nó ở đâu ? Đã bao thế kỷ nay, từ thời kỳ tiền sử xa xôi, mông muội, trên các mảnh đất Đông phương, có không biết bao nhiêu nhà tu hành, đạo sĩ, pháp sư và các cao thủ võ lâm tìm kiếm cách trả lời các câu hỏi này. Cuối cùng, dù bằng cách này hay cách khác, theo con đường này hay con đường khác, từ các pháp môn yoga tối cổ đến môn hatha yoga hiện đại, từ các môn kungfu, Thái cực quyền, Nga mi của Trung Hoa đến jiujitsu, judo, aikido của Nhật bản, tất cả đều chung một câu trả lời thống nhất : ý và Khí.
Ý thì có lẽ chúng ta đều hiểu. ( Thực ra vì khuôn khổ của bài viết dành cho độc giả của một tạp chí, nên tác giả đã bỏ qua phần luận bàn, rất quan trọng về mặt triết học cũng như võ học, về mối tương quan giữa nhận thức và trực giác, ý thức và tiềm thức) Chỉ cần nói thêm là để sử dụng được Ý và Khí một cách tự do, cần phải có sự thống nhất hoàn toàn giữa ý thức và tiềm thức, phải có một tinh thần trong sáng và ý chí cực kỳ mạnh mẽ, cứng rắn, một tâm hồn bình tĩnh, phẳng lặng. Điều này chỉ có thể đạt được thông qua luyện tập lâu dài và bền bỉ.
Khí ở đây không có nghĩa như khí hóa học, mà nó mang một ý nghĩa trừu tượng, rộng lớn. Người Ấn độ gọi khí là PRANA, người Nhật gọi là KI, dịch sát nghĩa tức là "Khí lực của vũ trụ". Đây chính là sự biểu hiện ra thành vật chất sức mạnh của Thái cực. Một cao thủ sử dụng được sức mạnh này sẽ là vô địch. Người sáng lập ra môn aikido, võ sư Morihei Uyeshiba có nói : "Kẻ nào giao đấu với tôi, tức là giao đấu với toàn vũ trụ."
Khi luyện tập thành công về Ý và Khí, sức mạnh của cơ bắp không còn ý nghĩa gì so với khí lực của vũ trụ. Những gì mà thể xác con người không làm nổi, vũ trụ lại làm được dễ dàng. Do đó những việc chúng ta quan niệm là phi thường hoàn toàn có thể đạt được thông qua một quá trình luyện tập nghiêm túc, lâu dài và gian khổ. Các cao thủ võ lâm chân chính, xứng đáng được nhận danh hiệu võ sư, đều phải có một hiểu biết nhất định về ý và Khí, và phải có đủ công phu bản lĩnh để huấn luyện về vấn đề này cho các môn đồ cao cấp của mình.
Tất nhiên việc luyện tập không phải không nguy hiểm, vì cái gì đem lại sức mạnh cũng có thể đem lại sự tàn phá. Nếu tập luyện thiếu nghiêm túc, không tuân thủ nghiêm ngặt những chỉ dẫn của các bậc tiền bối, sự tích tụ năng lực sẽ hủy hoại cơ thể người luyện tập, có thể dẫn đến tử vong. Do đó để đạt được thành công trong công phu, cần phải có một người thầy chân chính, và người luyện phải có một tinh thần nghiêm túc, trong sáng, có thiên tư về võ thuật.
Để luyện Ý và Khí có nhiều phương pháp. Các yogi Ấn Độ chủ trương luyện thông qua 7 huyệt đạo cơ bản trong cơ thể, gọi là 7 luân xa. Khi khai mở được 7 luân xa này (chu kỳ 6 năm, 12 năm, 24 năm …) một yogi chân chính có thể đạt được mọi kỳ tích phi thường nhất : khi đề khí, thân pháp nhẹ như hơi thở, đi trên cát không để lại dấu chân; khi trầm khí, thân pháp nặng ngàn cân, muôn người khôn chuyển, chịu được mọi tác động khắc nghiệt của thiên nhiên và con người. Người Trung Hoa chủ trương luyện bằng cách dùng Ý dẫn Khí qua huyệt Bách hội ở đỉnh đầu, dọc theo các huyệt đạo ở cột sống, qua đốt xương cùng, tích tụ tại đan điền, sau đó qua các huyệt tchongkoann, tsiukoann, tsiu-oe phóng ra ngoài. Đòn đánh của các cao thủ Trung Hoa có kèm theo nội lực đã trở thành huyền thoại, được võ sư John F. Gilbey (8 đẳng Judo, 6 đẳng karatedo, 4 đẳng kiếm đạo, võ sư Thiếu lâm) ghi nhận trong cuốn Những môn võ bí truyền trên Thế giới của ông. Chỉ một cử chỉ mơn trớn nhẹ nhàng, đối phương hầu như không nhận thấy, khí lực truyền đi rất êm đềm, có thể gây ra tử vong ngay tức khắc hoặc sau một khoảng thời gian nhất định do người đánh định trước. Người Nhật chủ trương luyện Ý và Khí bằng cách tập trung năng lực vào Seika-tanden (tương đương với huyệt đan điền của Trung Hoa). Môn aikido còn đưa ra một khái niệm mới là seika-no-itten, là nơi để tập trung tinh thần. Kỳ công của các samourai trên đất nước Hoa anh đào đã lừng danh khắp thế giới. Niềm tự hào của họ là tiếng thét bí truyền "Kiai". Một cao thủ với tiếng thét đúng độ có thể khiến cho địch thủ bất tỉnh hoặc bỏ mạng, cũng tiếng thét "Kiai" với một âm sắc khác có thể làm cho một người đang chết giấc hồi tỉnh.
Nói tóm lại, nhờ sức mạnh của Ý và Khí, sức mạnh và khả năng của con người trở nên vô cùng vô tận, giúp cho con người có thể lập nên mọi kỳ tích phi thường nhất.
Dù bằng phương pháp này hay phương pháp khác, theo chủ trương cương hay nhu, tất cả các trường phái Ấn độ, Trung Hoa, Nhật bản đều thống nhất giữa tinh thần và thể xác, giữa ý thức và tiềm thức, giữa con người và vũ trụ, đưa con người về với căn nguyên bản thể của mình, để hấp thụ được sức mạnh đích thực và chân chính của sự phát sinh ra vạn vật : Thái cực.
Sài gòn 1990