Thứ Tư, 28 tháng 4, 2021

Khí công - Luận Bàn - Mr. C.H.Lĩnh

1. Vì sao ít người luyện khí thành công

 Hiện nay, rất nhiều môn phái võ thuật, thiền, khí công, yoga ...etc... phổ biến trong quần chúng, trong sách vở và trên Internet.

Nhưng khi hỏi những người tập những môn kể trên xem họ đạt được những thành tựu gì, thì thường được trả lời là "Tôi cảm thấy thế lọ, tôi càm thấy thế chai", chứ ít ai phát biểu một cách cụ thể, đo đếm được bằng thiết bị hay quan sát ra được thành hành động thực tế xem họ làm được những cái gì, chữa được bệnh gì hay khoẻ lên rõ ràng như thế nào về mặt nhịp tim, huyết áp, cơ thể ..etc.. so với trước khi tập khí công hay tập thiền.

 Bên cạnh đó, cũng có những người nhờ tập luyện mà chữa khỏi những bệnh hiểm nghèo, như bác sĩ Nguyễn Khắc Viện tập khí công chữa khỏi bệnh lao phổi, ông nội tôi tập Yoga chữa khỏi nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não. Năm đó ông nội tôi gần 70, bị nhồi máu cơ tim đến lần thứ ba, tai biến mạch máu não liệt nửa người bên trái. Sau đó ông nội tôi tập Yoga, bao gồm đủ cả ba phần là Dhyana, Pranayama và Asana, vậy mà khỏi hẳn. Đến sau này, năm 91 tuổi, ông nội tôi còn làm được những động tác mềm dẻo mà tôi lúc đó còn là thanh niên, ăn tập tử tế mà vẫn không làm được.  Tôi tập khí công chữa khỏi bệnh hen suyễn kinh niên năm 11 tuổi.

 

Vậy đâu là sự khác biệt giữa tập khí công có thành tựu và tập "cảm thấy"?

Nói sơ lược về Khí công, các bạn có thể đọc ở đây:

Viết năm 1990: Luận bàn về Ý và Khí trong Võ học (3 dưới đây)

Viết năm 2013: Khí công - Sự thật và những điều ngộ nhận (2 dưới đây)

 

Chú ý: Khí, viết theo tiếng Hán, không phải là không khí mà là năng lượng, như từ khí trong Điện khí hoá, Cơ khí hoá ...etc...

Nói đơn giản, các bài tập về khí công phổ biến hiện nay chỉ là các bài dẫn khí (năng lượng) chạy theo các kinh mạch (kênh năng lượng) trong cơ thể.

 

Để dẫn được khí, đầu tiên là phải có khí. Điều này cũng tương tự như bạn muốn bơm nước trong một hệ thống ống nước, thì đầu tiên phải có nước trong ống đã. Vì các lý do này nọ trong lịch sử, các bài tập về vận khí, đưa chân đưa tay hay ngồi dẫn khí được phổ biến rất nhiều, nhưng phần đầu tiên là làm gì để có khí (tụ khí, nạp khí) thì thường bị giấu đi.

Vì thế nên các thầy dạy võ thời xưa khi dạy võ thì ngoại trừ phần tụ khí, nạp khí, họ đều dạy đầy đủ hết, Đến lúc tìm được truyền nhân đắc ý rồi, họ chỉ cần chỉ thêm phần nạp khí, là tự nhiên người học trò đó tập có kết quả hơn rất nhiều bậc so với những người khác. Trong khi đó thì những người khác cứ giơ tay múa chân, ngồi thiền, trạm trang hì hục từ ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác mà chả có kết quả gì. 

Phần tụ khí, nạp khí thường lại là môt vài động tác rất đơn giản, không mất nhiều thời gian, nhưng nếu không có người chỉ thì không ai biết. Mà những người được chỉ rồi thì vì thấy nó đơn giản, đôi khi còn ngớ ngẩn quá, không biết có thực hư thế nào, có được tích sự gì không. Do đó hoặc là họ không tập theo, hoặc là tập theo ít buổi, rồi lại theo tư duy chủ quan của mình thêm thắt, điều chỉnh cho (có vẻ) hay hơn, hoặc tập ít buổi rồi bỏ. Tất cả những người hành động theo lối đó đều không đi đến đâu cả. 

Ngày nay, chúng ta thường thấy những người ốm sắp chết hay thể trạng ốm yếu tập Yoga hay khí công khỏi bệnh, chứ ít khi thấy người khoẻ mạnh nào nói tôi tập khí công ra cái tích sự gì. Lý do là người tập mà không có động lực thì thường thiếu nghiêm túc, tập mấy hôm cho có, cho vui, không thấy gì thì thôi, trong khi đó, khí công đòi hỏi một sự tập luyện nghiêm túc, đều đặn, quan trọng nhất là đều đặn, công phu theo ngày tháng.

 

Tóm lại, lý do những người tập khí công, thiền, Yoga mà chỉ có "cảm thấy", không có thành tựu gì đo đếm được, không chữa được bệnh thì chỉ do một trong các lý do sau đây:

- Không có phương pháp tập tử tế. Mà quan trọng nhất là không có phần tụ khí, nạp khí.

- Tập luyện không chặt chẽ theo phương pháp, mà sau khi tập ít lâu thì tự động điều chỉnh tư thế, động tác, tập nhiều thêm (NGUY HIỂM NHẤT là TẬP NHIỀU THÊM).

- Tập không đều đặn hàng ngày.

- Không kiên trì, tập ít lâu rồi bỏ.

- Quá cuồng tín vào một phương pháp mà bỏ các phương pháp khác. 

Tuỳ theo cơ địa, tâm tính từng người, sẽ có phương pháp phù hợp với người này hơn so với người kia. Thường là tập nghiêm túc, bài bản, chính xác, đều đặn trong vòng một năm mà không có thay đổi về mặt cơ thể, tim mạch, huyết áp, thể lực trong phạm vi có thể đo được bằng máy móc, thì nên chọn một phương pháp khác. Nhưng không nên thay đổi phương pháp loạn xạ trước khi thử trong vòng một năm.

 San Francisco, September 14, 2014


2. Khí công - Sự thật và những điều ngộ nhận

Mục đích bài viết này: Tôi là người tập khí công từ nhỏ, với mục đích trị bệnh hen suyễn và đã khỏi hoàn toàn. Phương pháp này tôi học của một người quen với ông nội tôi, tôi gọi bằng chú. Chú không nhận làm thầy tôi, và không muốn nói tên, nên tôi không nói, chứ không phải chối bỏ nguồn gốc. 

 Thời gian gần đây, tôi nhận ra nếu không nói rõ bản chất của khí công, thì người bình thường sẽ nhắm mắt chối bỏ nó một cách mù quáng, bỏ qua một phương pháp duy trì sức khoẻ một cách hiệu quả, bồi đắp đến tận gốc rễ của cơ thể. Vì thế, tôi viết bài này nhằm mục đích giải thích trực tiếp thông qua kinh nghiệm tu tập bản thân. Hy vọng những bạn đọc có quan tâm đến vấn đề này sẽ có cái nhìn rõ ràng hơn về bản chất của khí công và việc tập khí công.

 Đây là bài giải thích sơ lược về bản chất của khí công, chứ không nói về phương pháp tập.

 

I. Một vài điều cơ bản về khí công

Bài tập khí công sơ cấp thực ra rất đơn giản, sách vở và phim ảnh nói đầy rẫy, trên Internet cũng có. Vì thế đây là một bài viết ngắn gọn tôi viết theo như tôi hiểu, viết ra các định nghĩa này theo kinh nghiệm và trực giác của mình (chưa chắc đã chính xác 100%, nhưng ít nhất là có kiểm chứng). Lý do tôi làm thế vì:

  1.  Đa số các thầy từ xưa nói về khí đều dùng thứ ngôn ngữ Đạo gia hay Phật gia huyền bí.
  2.  Sau thế hệ các cao thủ khí công thực sự, thì các thầy thuộc về thế hệ sau chủ yếu là tập theo động tác, kinh nghiệm của thế hệ trước theo kiểu cầm tay chỉ dạy, ít chịu học nguyên lý, vì thế lý luận khí công thường là lệch lạc, chắp vá và không kiểm chứng bằng thực tế được.
  3.  Đa số các sách dạy khí công thế hệ sau này toàn là nói láo, lẫn lộn nhập nhằng khí, không khí, máu, oxygen ...etc.., lập lờ đánh lận con đen, cố gắng giải thích khí công bằng y học phương Tây, nhưng thực ra hai thứ đó không phải là một.

Những thứ lý luận loằng ngoằng, cao siêu về Ý và Khí người ta viết chán rồi. Hồi tôi 18 tuổi cũng có viết một bài, giờ đọc lại thấy hơi buồn cười, mặc dù cũng không có sai sót gì nghiêm trọng, ít nhất là hơn mấy bố viết sách khí công bán lấy tiền bây giờ ở Việt nam:  Luận bàn về Ý và Khí trong võ học

Vì thế, ở đây tôi diễn giải đơn giản theo cách hiểu của tôi. Khí, viết theo tiếng Hán, không phải là không khí mà là năng lượng, như từ khí trong Điện khí hoá, Cơ khí hoá ...etc... 

Năng lượng này ở đâu mà có? Trong Đạo gia, người ta tin rằng khi con người ta sinh ra từ cơ thể người mẹ, thì trong người đã có năng lượng thừa hưởng từ người cha và người mẹ, và từ trong trời đất, gọi là năng lượng tiên thiên. Về sau khi con người ta hít thở, ăn uống tạo nên năng lượng cho mình để lớn lên và phát triển thì gọi là năng lượng hậu thiên. Trong sách về khí công hay truyện chưởng thường viết đó là Tiên thiên chân khí và Hậu thiên chân khí. Phật gia khi truyền từ Ấn Độ sang Trung quốc cũng bị ảnh hưởng bởi tư tưởng này. Phật giáo ở Ấn Độ bắt nguồn từ đạo Hindu thì tư tưởng có khác biệt rõ rệt. Đây chính là lý do các phương pháp tập Yoga, nội lực của Ấn Độ và Phật giáo truyền từ Ấn Độ lên Tây Tạng (Mật tông) hoàn toàn khác biệt với các phương pháp tập của Trung quốc.

Khí công Đạo gia và Phật gia tin rằng năng lượng tiên thiên của con người là năng lượng thuần khiết nhất, và có mạch nối liền với vũ trụ, nên người tập khí công phải tìm cách bảo trì năng lượng tiên thiên, năng lượng hậu thiên chỉ có vai trò duy trì và bù đắp những mất mát trong quá trình con người phát triển. Chính vì thế nên khí công Đạo gia và Phật gia mới chủ trương giữ gìn tinh khí, luyện đồng tử công, bế dục hoặc hạn dục để duy trì năng lượng ở mức cao và tập thành cao thủ.

Luyện khí theo kiểu Đạo gia hay Phật gia Trung quốc là tích luỹ khí (năng lượng), cố bản bồi tinh (tìm cách tránh thất thoát năng lượng tiên thiên, bồi bổ bằng năng lượng hậu thiên thông qua ăn uống, hít thở). Sau đó quá trình luyện tinh hoá khí là dùng các động tác luyện tập khí công kết hợp với hơi thở để biến đổi tinh (vật chất) thành khí (năng lượng), đồng thời thay đổi về chất cấu trúc của cơ thể. 

Tinh ở đây nên hiểu là những tinh hoa vật chất của cơ thể, hoặc là do sinh ra có sẵn một ít, hoặc là do quá trình trao đổi chất, ăn uống hít thở của cơ thể tạo nên. Từ tinh hoa vật chất này, mới sinh ra năng lượng, da, thịt, tóc v.v... 

Chính vì Khí được chuyển hóa từ tinh chất này nên nếu luyện Khí quá mức hay luyện nhiều lần thì nó phải rút tỉa tới những tinh chất có sẵn trong cơ thể như tủy sống, do đó sinh ra suy nhược hoặc bất lực là như vậy.

 Khi tinh không bị thất thoát, khí được tích luỹ đầy đủ thì thần (tinh thần) của con người sẽ được nâng lên một tầm cao mới. Lúc đó ý chí con người trở nên kiên định, khả năng hoạt động của não cao, cơ thể khoẻ mạnh nên con người có thể làm nên những kỳ tích mà đối  với người thường là phép lạ.

Tôi không muốn nói ví dụ cụ thể về bản thân về những gì tôi đạt được khi tập khí công. Hy vọng là riêng chuyện tôi chữa khỏi bệnh hen suyễn kinh niên rất nặng của mình cũng nói lên được điều gì.

 Đoạn trên là tóm tắt của Luyện tinh hoá khí, Luyện khí hoá thần. Tôi chưa qua các mức khác nên không dám nói.

 

II. Những ngộ nhận về tập khí công:

 1. Tập khí công khó khăn, huyền bí: 

Khí công về mặt bản chất không có gì khó khăn, huyền bí cả. Cách tập ở mức cơ bản chỉ là dùng hơi thở hoà hợp với vận động của cơ thể, kích thích, co nén nội tạng, nhận biết được hơi thở và vận động, đồng thời luyện lắng nghe cảm giác của mình đối với nội tạng.

Con người ta từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, hầu như ai cũng tập thể dục, lao động tay chân, cơ bắp, nhưng không luyện nội tạng. Do đó nội tạng cứ hoạt động qua tháng ngày rồi chết, không được luyện tập. Luyện khí công chính là luyện nội tạng.  

Nói thì huyền bí, nhưng bước đầu tiên, cơ bản thì chính là tập thở, ai cũng tập được. 

2. Tập khí công mất thời gian: 

Khi nói đến tập khí công, đa số người bình thường nghĩ đến ngồi thiền, quán tưởng, thở hít phì phò, khua tay khua chân hàng tiếng đồng hồ.

Mức cơ bản tập khí công của tôi cho đến khi chữa hoàn toàn bệnh hen suyễn là mỗi ngày luyện 6 hơi thở. Lúc hơi thở ngắn, thở ra 10 giây, hít vào 10 giây là 20 giây một hơi thở ra hít vào, tổng cộng 6 lần thở ra hít vào là 20 giây x 6 = 120 giây = 2 phút.

Sau này hơi thở tôi dài ra 1 phút rưỡi một lần thở ra hít vào, thì 6 hơi thở mất 3 phút  x 6 = 18 phút. Nhưng đó là tôi tập thêm phần kinh mạch về sau, còn người bình thường tập bài khí công như tôi từng tập thì hiếm có ai mất quá 4 phút một ngày.

Tất nhiên tập khí công trong võ thuật thì lại khác nữa, ví dụ như có lời đồn tôn sư Diệp Vấn tập bài Tiểu Niệm đầu mất từ 45 phút cho đến 1 tiếng. Chuyện này thật giả không biết, chứ cá nhân tôi luyện riêng phần tụ khí (là phần 1 trong 3 phần tụ khí, xả khí và dụng khí của bài Tiểu Niệm đầu) là đã mất hơn 30 phút.

 Thời cổ đại người ta dùng cưa tay, cưa cây cổ thụ hết mấy ngày. Giờ ta dùng cưa máy, cưa cây cổ thụ một phát là đứt, nên chuyện tập khí công ngày mấy tiếng chỉ có ở thời Xuân Thu Chiến quốc, chứ vào thời cuối Thanh, đầu Dân quốc, nghiên cứu về Đạo gia Khí công đã tương đối hoàn chỉnh, con em quý tộc vùng An Huy, Phúc Kiến Trung quốc đến sau 17 tuổi là hoàn thiện toàn bộ phần luyện tinh hoá khí. Những kỹ thuật còn truyền về sau này, công năng là tính bằng phút, chứ không tính bằng tiếng đồng hồ nữa.  

Tập khí công cho sức khoẻ thì rất ít ai cần tập hơn 4 phút một ngày, mà thậm chí là không nên luyện hơn 4 phút một ngày, lý do tôi sẽ giải thích tiếp ở dưới.  

3. Tẩu hoả nhập ma khi tập khí công:

Nhiều người cả đời chả bao giờ đọc một sách khí công, đông y nào nghiêm túc, chưa từng gặp một ai có tập qua khí công, chỉ đọc truyện chưởng, nhưng khi nói đến khí công thì hễ mở mồm ra là phán y như đúng rồi. 

Luyện khí công rất dễ, nhưng chính vì nó quá dễ nên ít người chịu nghe dặn dò và làm theo cái dễ đó một cách nghiêm túc, mà đa số là xảy ra một trong hai trường hợp sau:

- Thấy dễ quá, tập chơi cho biết, tập dăm bữa nửa tháng không thấy gì rồi bỏ. Trường hợp này là còn tốt. 

- Thấy dễ quá, tập nhẹ quá, không thấy mệt, nên tăng liều lượng tập lên. Ví dụ như nhiều người tập trong khoảng thời gian mấy tháng đầu tiên, căn cơ chưa vững, không thấy gì, nghĩ là tập hít vào thở ra 6 lần chưa ngon, tăng lên 12 hơi thở chắc ngon hơn. 

Đây chính là nguyên nhân gây hại khi tập khí công. Thời gian ban đầu chính là thời gian để luyện tinh hoá khí, tức là luyện vật chất của cơ thể ra năng lượng. Nếu cơ thể sinh ra vật chất không kịp, thì quá trình này sẽ luyện vào nguyên tinh cốt lõi của cơ thể. Cá nhân tôi đã quan sát được hai người bị rối loạn huyết áp và nhịp tim khi tập quá độ trong một thời gian dài. Họ tập vài tháng đầu không thấy gì, sốt ruột muốn nhanh, tập tăng cường độ và bị ảnh hưởng ngay. Có một người cũng tập như vậy, và bị giảm khả năng hoạt động sinh lý. 

Nhưng tập đúng trong khuôn khổ, thì khí công sẽ bồi đắp căn cơ, cốt lõi và nội tạng của cơ thể, làm cho cơ thể khoẻ mạnh và hoạt động hiệu quả hơn. 

Vì thế Đạo gia mới nhấn mạnh vào "Dục tốc bất đạt" và "Hữu sở cầu tất hữu sở thất". Theo kinh nghiệm cá nhân tôi và quan sát nhiều người tôi hướng dẫn trong vài chục năm nay, rải rác ở Việt nam, Đức và Mỹ, thì chỉ cần cẩn thận, nghiêm túc tập đúng 6 hơi thở, chứ Không Phải là 5 hơi, 7 hơi hay 12 hơi, thì sẽ có kết quả khi tập đủ ngày tháng (9 tháng - 1 năm), chứ không có vấn đề gì. Hôm trước ngồi chơi với một cậu bạn có kinh nghiệm nghiên cứu Dịch số, Phong thuỷ, cũng có nói về hồi trước cậu ấy đi tập Thiền, người thầy cũng nói về chuyện củng cố căn cơ bằng 6 hơi thở. Có lẽ để ra được con số 6 này, cũng phải tốn nhiều mạng tôn sư, "tẩu hoả nhập ma" mất nhiều người rồi thì mới đúc rút ra được.  

Nhưng theo cá nhân tôi, cứ tà tà mà tập, đừng mong cầu, sốt ruột, đúng ngày đúng tháng sẽ có kết quả. Quan trọng nhất là ngày nào cũng phải tập, công phu là cần đều chứ không cần nhiều. 

4. Khí công cao là võ thuật cao:

Đây là một ngộ nhận nguy hiểm. Khí công là luyện nội tạng bên trong. Nó trợ giúp cho vận động và việc sinh ra năng lượng, lực của cơ thể. Nhưng để đem ra đánh người thì gân cơ bên ngoài cũng phải bền chắc để chịu va đập, phải có ý thức về quyền cước qua lại thì mới đánh người được.

 

III. Tóm tắt vấn đề:

Luyện khí công không khó khăn, huyền bí, cũng không tốn thời gian. Người thông thường chỉ cần luyện từ 2 đến 4 phút một lần tập, mỗi lần tập chỉ thở 6 hơi thở hít vào + thở ra, mỗi ngày tuyệt đối không nên tập quá 2 lần.

Tập khí công chỉ cần đều, ngày nào cũng tập. Nên chọn một cữ nhất định để tập, ví dụ hôm nay mình tập buổi tối thì hôm sau cũng tập buổi tối, cứ thế kéo dài mãi hàng tháng, hàng năm, thời điểm có thể xê xích, nhưng đừng xê xích nhiều quá.

Người xưa có tổng kết về 4 thời điểm có thể chọn để tập khí công tốt nhất trong ngày, nhưng tôi không nói cho khỏi loãng. Hơn nữa thời hiện đại, mấy ai làm chủ hoàn toàn giờ giấc, nên miễn đúng cữ, đừng xê dịch quá, ví dụ đừng có hôm thì tập tối, hôm thì tập trưa, hôm thì tập sáng, thế là được. 

Tập khí công nếu làm đúng số lần, không nhiều hơn, không ít hơn thì không có nguy hiểm. Nhưng những người tôi quan sát qua hàng chục năm nay thì hễ tập không đều hoặc ít hơn là không kết quả, còn những người cố tập tăng cường độ lên, thì TOÀN BỘ đều bị bệnh và có vấn đề tim mạch, huyết áp, sinh lý. 

Tập khí công dễ, chính vì dễ mà không ai làm, hoặc làm theo mà không nghiêm túc. Theo quan điểm cá nhân của tôi, thì như thế cực kỳ có hại. Hại nhẹ nhất là trong vòng mấy tháng tự nhiên mỗi ngày mất mấy phút làm một việc vô tích sự. Hại nặng nhất là bệnh tật. 

Nhưng trong đời cái gì cũng thế thôi, ít quá hoặc nhiều quá đều có hại. Quan trọng nhất là theo cái dễ mà làm đều đặn hàng ngày trong mức vừa đủ. 

Hiện nay sách vở, tài liệu khí công nhiều, người tập khí công cũng nhiều. Vì thế khi chọn phương pháp tập, thầy tập thì nhớ quan sát hai điều:

- Người thầy, phương pháp có lý luận rõ ràng, hợp lý hay không.

- Người thầy, người viết sách có thành tựu gì, kết quả gì không.

 Hai điều trên không có thì chính là nói láo, không nên tập. Phải có đủ cả hai. Thậm chí kể cả nếu người thầy có làm được một số kỳ tích, nhưng không giải thích được thì mình cũng không nên tập theo, vì sẽ không biết là có ảnh hưởng phụ gì hay không. 

Khí công, cũng như cơm nước hàng ngày, ai tập thì người đấy khoẻ, ai ăn người đấy no, không tập giúp, ăn giúp được. Mỗi người nếu có quan tâm thì nên tìm hiểu nghiêm túc và chọn con đường cho chính mình, tập luyện kiên nhẫn, nghiêm túc và không nóng vội. Còn nếu không, thì không nên tập, vì vừa lãng phí thời gian, vừa có thể gây hại cho sức khoẻ.

Los Angeles, December 18th, 2013


Luận bàn về Ý và Khí trong Võ học 

Từ ngàn xưa, trên các nước Ấn độ, Trung Hoa và Nhật bản đã lưu truyền các truyền thuyết về các yogi (pháp sư yoga) và các võ sư đã làm nên những công phu đặc dị. Ngay trong thế giới hiện nay, chúng ta cũng được chứng kiến những kỳ công của con người như võ sư Hohen Soken thuộc môn phái Karate Bạch hạc của đảo Okinawa có thể khinh công đi quyền trên một tấm ván mỏng thả nổi trên mặt nước. Những người tập yoga có thể chôn dưới đất hàng tháng trời vẫn khỏe mạnh bình thường. Ngay tại Việt nam, chắc phần lớn các bạn yêu thích võ thuật đều nghe danh võ sư Hà Châu, người đã dùng tay nắm hai chiếc xe đò đầy khách làm chúng không chạy được. Ông còn chịu được sức nặng của chiếc xe lu 12 tấn lăn qua người.
    Vậy đâu là sức mạnh để tạo nên những kỳ công phi thường đó ? Mọi chuyện thoạt nhìn có vẻ huyền bí, nhưng thực ra có thể giải thích khá đơn giản : Đó là sức mạnh của Ý và Khí.
    Để hiểu được vấn đề này, chúng ta phải tìm về căn nguyên tối cổ của triết học Cực Đông : Lý thuyết nhất nguyên phân cực của thuyết Âm-Dương. Lý thuyết này có một động lực hữu cơ, mà nếu chúng ta dùng cách phân tích để suy tầm nó, sẽ không thể nào thấy được.
    Triết học Cực Đông quan niệm rằng vũ trụ là sự chấn động của hai hoạt động Âm và Dương và những sự tuần hoàn của nó. Cái sinh ra và tổng hợp nên vũ trụ được người Trung Hoa gọi là Thái cực, người Aán độ gọi là Cũnyatâ, người Nhật gọi là Kù (Aiki), dịch nghĩa không phải bằng mặt chữ, mà bằng nghĩa của Triết học là "bản chất" hay "vũ trụ tinh khí tiền phân cực", khi nó phân cực phát sinh ra vũ trụ và vạn vật. Người ta chỉ có thể hiểu được Thái cực bằng trực giác, chứ không ngôn ngữ nào có thể miêu tả được, vì ngôn ngữ là quy ước của con người, còn Thái cực là nguồn gốc phát sinh và bao trùm lên tất cả. Đại khái có thể diễn tả Thái cực như một thể thống nhất, vô cùng, vô tận, vô thủy, vô chung. Trong Thái cực không có khái niệm nóng-lạnh, không có độ xa-gần không gian, không có sự lâu-mau thời gian, không có đứng yên, không có chuyển động… Thái cực là một uy lực uyên nguyên tự tại, thường hằng, vĩnh cửu. Chỉ sau khi phân cực tạo thành vũ trụ, các khái niệm nhị nguyên nóng-lạnh, xa-gần, đứng yên-chuyển động mới hình thành.
    Trong bài viết này, chúng ta không quan tâm đến khía cạnh triết học, mà chỉ luận bàn về Thái cực với vai trò là nguồn gốc sức mạnh phi thường và công phu đặc dị trong võ học. Thái cực là sự phát sinh, là nguồn gốc của tất cả nên sức mạnh của Thái cực là vô cùng. Mỗi con người chúng ta đều là một phần của Thái cực, đều mang trong mình sức mạnh của Thái cực. Đó là sức mạnh chân chính và siêu đẳng. Nhưng khi sống trong cuộc đời, mối liên hệ giữa Thái cực và con người bị bản năng, nhận thức, vật chất và vô vàn những điều khác đè nén, chồng chất, làm cho bị chìm lấp dưới lớp bụi thời gian. Do đó, giữa vũ trụ bao la rộng lớn, con người cảm thấy mình nhỏ bé và yếu ớt. Thật ra họ chưa sử dụng hết khả năng của mình. Con người cần phải tìm lại mối liên hệ của mình với Thái cực, để sử dụng được sức mạnh đích thực của mình.
    Vậy chìa khóa để mở ra sức mạnh Thái cực của con người là gì ? Và tìm nó ở đâu ? Đã bao thế kỷ nay, từ thời kỳ tiền sử xa xôi, mông muội, trên các mảnh đất Đông phương, có không biết bao nhiêu nhà tu hành, đạo sĩ, pháp sư và các cao thủ võ lâm tìm kiếm cách trả lời các câu hỏi này. Cuối cùng, dù bằng cách này hay cách khác, theo con đường này hay con đường khác, từ các pháp môn yoga tối cổ đến môn hatha yoga hiện đại, từ các môn kungfu, Thái cực quyền, Nga mi của Trung Hoa đến jiujitsu, judo, aikido của Nhật bản, tất cả đều chung một câu trả lời thống nhất : ý và Khí.
    Ý thì có lẽ chúng ta đều hiểu. ( Thực ra vì khuôn khổ của bài viết dành cho độc giả của một tạp chí, nên tác giả đã bỏ qua phần luận bàn, rất quan trọng về mặt triết học cũng như võ học, về mối tương quan giữa nhận thức và trực giác, ý thức và tiềm thức) Chỉ cần nói thêm là để sử dụng được Ý và Khí một cách tự do, cần phải có sự thống nhất hoàn toàn giữa ý thức và tiềm thức, phải có một tinh thần trong sáng và ý chí cực kỳ mạnh mẽ, cứng rắn, một tâm hồn bình tĩnh, phẳng lặng. Điều này chỉ có thể đạt được thông qua luyện tập lâu dài và bền bỉ.
    Khí ở đây không có nghĩa như khí hóa học, mà nó mang một ý nghĩa trừu tượng, rộng lớn. Người Ấn độ gọi khí là PRANA, người Nhật gọi là KI, dịch sát nghĩa tức là "Khí lực của vũ trụ". Đây chính là sự biểu hiện ra thành vật chất sức mạnh của Thái cực. Một cao thủ sử dụng được sức mạnh này sẽ là vô địch. Người sáng lập ra môn aikido, võ sư Morihei Uyeshiba có nói : "Kẻ nào giao đấu với tôi, tức là giao đấu với toàn vũ trụ."
    Khi luyện tập thành công về Ý và Khí, sức mạnh của cơ bắp không còn ý nghĩa gì so với khí lực của vũ trụ. Những gì mà thể xác con người không làm nổi, vũ trụ lại làm được dễ dàng. Do đó những việc chúng ta quan niệm là phi thường hoàn toàn có thể đạt được thông qua một quá trình luyện tập nghiêm túc, lâu dài và gian khổ. Các cao thủ võ lâm chân chính, xứng đáng được nhận danh hiệu võ sư, đều phải có một hiểu biết nhất định về ý và Khí, và phải có đủ công phu bản lĩnh để huấn luyện về vấn đề này cho các môn đồ cao cấp của mình.
    Tất nhiên việc luyện tập không phải không nguy hiểm, vì cái gì đem lại sức mạnh cũng có thể đem lại sự tàn phá. Nếu tập luyện thiếu nghiêm túc, không tuân thủ nghiêm ngặt những chỉ dẫn của các bậc tiền bối, sự tích tụ năng lực sẽ hủy hoại cơ thể người luyện tập, có thể dẫn đến tử vong. Do đó để đạt được thành công trong công phu, cần phải có một người thầy chân chính, và người luyện phải có một tinh thần nghiêm túc, trong sáng, có thiên tư về võ thuật.
    Để luyện Ý và Khí có nhiều phương pháp. Các yogi Ấn Độ chủ trương luyện thông qua 7 huyệt đạo cơ bản trong cơ thể, gọi là 7 luân xa. Khi khai mở được 7 luân xa này (chu kỳ 6 năm, 12 năm, 24 năm …) một yogi chân chính có thể đạt được mọi kỳ tích phi thường nhất : khi đề khí, thân pháp nhẹ như hơi thở, đi trên cát không để lại dấu chân; khi trầm khí, thân pháp nặng ngàn cân, muôn người khôn chuyển, chịu được mọi tác động khắc nghiệt của thiên nhiên và con người. Người Trung Hoa chủ trương luyện bằng cách dùng Ý dẫn Khí qua huyệt Bách hội ở đỉnh đầu, dọc theo các huyệt đạo ở cột sống, qua đốt xương cùng, tích tụ tại đan điền, sau đó qua các huyệt tchongkoann, tsiukoann, tsiu-oe phóng ra ngoài. Đòn đánh của các cao thủ Trung Hoa có kèm theo nội lực đã trở thành huyền thoại, được võ sư John F. Gilbey (8 đẳng Judo, 6 đẳng karatedo, 4 đẳng kiếm đạo, võ sư Thiếu lâm) ghi nhận trong cuốn Những môn võ bí truyền trên Thế giới của ông. Chỉ một cử chỉ mơn trớn nhẹ nhàng, đối phương hầu như không nhận thấy, khí lực truyền đi rất êm đềm, có thể gây ra tử vong ngay tức khắc hoặc sau một khoảng thời gian nhất định do người đánh định trước. Người Nhật chủ trương luyện Ý và Khí bằng cách tập trung năng lực vào Seika-tanden (tương đương với huyệt đan điền của Trung Hoa). Môn aikido còn đưa ra một khái niệm mới là seika-no-itten, là nơi để tập trung tinh thần. Kỳ công của các samourai trên đất nước Hoa anh đào đã lừng danh khắp thế giới. Niềm tự hào của họ là tiếng thét bí truyền "Kiai". Một cao thủ với tiếng thét đúng độ có thể khiến cho địch thủ bất tỉnh hoặc bỏ mạng, cũng tiếng thét "Kiai" với một âm sắc khác có thể làm cho một người đang chết giấc hồi tỉnh.
    Nói tóm lại, nhờ sức mạnh của Ý và Khí, sức mạnh và khả năng của con người trở nên vô cùng vô tận, giúp cho con người có thể lập nên mọi kỳ tích phi thường nhất.
    Dù bằng phương pháp này hay phương pháp khác, theo chủ trương cương hay nhu, tất cả các trường phái Ấn độ, Trung Hoa, Nhật bản đều thống nhất giữa tinh thần và thể xác, giữa ý thức và tiềm thức, giữa con người và vũ trụ, đưa con người về với căn nguyên bản thể của mình, để hấp thụ được sức mạnh đích thực và chân chính của sự phát sinh ra vạn vật : Thái cực.

Sài gòn 1990


KHÍ CÔNG CĂN BẢN

 KHÍ CÔNG CĂN BẢN


1. Khí công là gì?
Là phương pháp dưỡng sinh, chữa bệnh để cơ thể mạnh khỏe, kéo dài tuổi thọ.
2. Lợi ích của khí công?
- Phòng tránh bệnh tật
- Chữa các loại bệnh tật
- Chuyển đổi quy luật “Sinh – Lão – Bệnh – Tử” thành “Sinh – Lão – Tử”.
Người tập khí công đạt thành tựu sẽ chết vì già, không chết vì bệnh tật.
3. Chỉ yếu và phương pháp.
“Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần, thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình”
3.1. Bế tinh:
Tinh là các chất tinh hoa do cơ thể chắt lọc từ việc ăn uống, hít thở và sinh hoạt hàng ngày. Một phần tinh sẽ được dùng để nuôi dưỡng cơ thể, một phần tinh sẽ được chuyển hóa thành “khí” và một phần được chuyển hóa thành “tinh dịch” để sử dụng cho việc sinh hoạt tình dục.
Như vậy con đường thất thoát tinh chính là thông qua việc sinh hoạt tình dục. Nếu sinh hoạt tình dục vô độ thì tinh tập trung vào việc sinh tinh sẽ làm ảnh hưởng đến việc nuôi dưỡng cơ thể và đặc biệt là việc sinh khí.
Bế tinh có nghĩa là không sử dụng tinh một cách bừa bãi. Nhiều người lý luận rằng … nếu không sinh hoạt tình dục thì tinh thừa cũng sẽ bị xuất ra trong khi nằm ngủ gọi là “mộng tinh”. Bế tinh không có nghĩa là hoàn toàn cấm việc sinh hoạt tình dục, nếu vậy thì con cháu sẽ từ đâu mà ra; phải hiểu việc bế tinh là sinh hoạt tình dục vừa phải, hợp lý (không phung phí, không gắng sức).
Trong trường hợp lâu ngày không sinh hoạt tình dục, tinh thừa thì làm thế nào để tránh việc mộng tinh gây thất thoát, lãng phí; để khắc phục việc này người xưa đã hướng dẫn ăn uống thanh đạm và tập luyện khí công.
Bế tinh bằng cách tập luyện các bài tập cho tủy/ thận thay vì chuyển hóa tinh thành tinh dịch thì chuyển thành khí (thông qua mệnh môn).
3.2. Dưỡng khí:
Khí (viết tắt của chân khí) ở đây có thể hiểu là phần “không khí” ở bên trong các phần rỗng của cơ thể của con người. Các phần rỗng này luôn tồn tại một lượng “không khí” phù hợp để cân bằng với áp suất không khí bên ngoài, nếu có sự mất cân bằng xảy ra thì cơ thể sẽ phát sinh ra bệnh tật, đau yếu.
Khí này gồm 2 phần là khí tiên thiên và khí hậu thiên. Khí tiên thiên là do cấu tạo của con người, có sẵn từ khi sinh ra; ngay sau khi sinh ra, con người phải tự nạp hoặc xả bớt để điều chỉnh áp suất cho phù hợp với môi trường. Thông thường thì cơ thể phải bổ sung thêm (do quá trình sinh trưởng, lớn lên thì cần phải bổ sung); phần khí bổ sung thêm này được gọi là khí hậu thiên.
Những người bình thường thì khí hậu thiên được bổ sung từ tinh, những người tập luyện khí công đến độ mở được các huyệt đạo thì khí hậu thiên được bổ sung từ bên ngoài. Khi cơ thể bị mất cân bằng về áp suất thì người luyện khí công sẽ tự mở các huyệt đạo để làm cân bằng trở lại một cách nhanh chóng; do đó dễ hiểu là những người thường xuyên luyện tập võ thuật và khí công hầu như không có bệnh tật gì, họ sống mạnh khỏe cho đến khi chết vì già.
Ngoài ra, còn có thể hiểu dưỡng khí là cần nuôi dưỡng tâm khí hiền hòa, quân bình với âm dương/ trời đất/ người vật …
Dưỡng khí bằng việc tập luyện các bài tập động khí công/ tĩnh khí công.
3.3. Tồn thần:
Có thể hiểu thần là thần thái của một người. Có người nhìn vào tự nhiên mình thấy tôn trọng/ kính trọng/ sợ hãi/ khinh thường … đó chính là cái thần của mỗi người khác nhau.
Thần thái của mỗi người chủ yếu do luyện tập/ học hành mà thành. Nếu con người không học hành, rèn luyện đến nơi/ đến chốn thì thần thái nào có đáng kể gì.
Tinh lực dồi dào, khí lực sung mãn là 2 yếu tố cơ bản để làm cho thần thái được ung dung/ tự tại.
Để bảo tồn và phát huy thần khí/ thần lực/ thần thái thì cần phải liên tục học hỏi/ rèn luyện để có được bản lãnh “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý”. Trường hợp không thể trên thông thiên văn, dưới tường địa lý thì cũng phải phấn đấu trở thành một chuyên gia/ nghệ nhân hàng đầu trong nghề nghiệp của mình.
3.4. Thanh tâm:
Tâm tức là tâm hồn/ là những suy nghĩ của con người, nếu không biết cách suy nghĩ thì có thể dẫn đến tâm thần/ cuồng loạn.
Thanh tâm có thể hiểu là cần phải giữ cho tâm hồn trong sáng, giữ mình trong sạch các công việc cần phải hợp lý và hợp pháp thì mới nên làm.
3.5. Quả dục:
Dục tức là những ham muốn của con người. Thông thường trí lực/ sức lực/ tài lực … của mỗi người là có hạn nhưng ham muốn là vô hạn cho nên cần phải quả dục, điều chỉnh những ham muốn lại cho phù hợp (không nên mơ tưởng hão huyền như ai đó rêu rao là làm theo năng lực/ hưởng theo nhu cầu).
Quả dục có thể hiểu là điều chỉnh và kiểm soát dục vọng của mình, cần biết tiến/ lùi đúng lúc, cần lường trước hậu họa của việc tham lam/ sân si vô độ.
3.6. Thủ chân:
Thủ chân ở đây có thể hiểu theo 2 nghĩa:
- Một là giữ vững chân khí đã rèn luyện được thông qua việc bế tinh, dưỡng khí; một khi đã đạt được rồi thì cần phải giữ vững, không để suy giảm.
- Hai là làm việc gì cũng cần phải dựa vào đạo lý/ lẽ phải (chân lý).
3.7. Luyện hình:
Luyện hình cũng có thể hiểu theo 2 nghĩa:
- Một là giữ vững và luyện thêm để phát huy cái thần khí/ thần lực/ thần thái mà mình đã sở đắc.
- Hai là tập luyện để thể hình (gân, cơ, xương) được khỏe mạnh/ cứng cáp làm nền tảng cho tinh, khí, thần lưu chuyển và phát huy.
4. Các bài tập:
Các bài tập thì có 2 phần động công và tĩnh công (xem trong các bài trong thư mục khí công).
4.1. Động công:
- Bát đoạn cẩm
- Trường sinh âm dương khí công
- Dịch cân tẩy tủy kinh
- Cửu thủ nhuyễn công
- Bát bộ trang
- Kim cương khí công
4.2. Tĩnh công:
- Thông mạch nhâm đốc
- Đại chu tiên và tiểu chu thiên
- Thiền

http://thichduthu07.blogspot.com/2015/02/khi-cong-can-ban.html?q=kh%C3%AD+c%C3%B4ng

Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2021

Dịch cân tẩy tủy kinh

Thích Đủ Thứ Mọi ý kiến, vui lòng liên hệ: Hòa Thượng Thích Đủ Thứ - 0912389686

Dịch cân, tẩy tủy kinh

DỊCH CÂN – TẨY TỦY KINH


I. Lời bàn:

- Dịch cân là làm dịch chuyển, thay đổi gân/ cơ/ xương;

- Tẩy tủy là tẩy rửa hệ thống thần kinh (tủy, não).

- Tu luyện thành tựu không những chữa được bách bệnh mà còn làm cho con người ta khỏe mạnh, trẻ lâu, cân bằng được mọi việc trong cuộc sống và công việc.

- Sở dĩ dịch cân – tẩy tủy kinh không được lưu truyền rộng rãi vì nó là bí kíp tu luyện cả đời học võ mới có, từ ngàn xưa bí kíp này chỉ được truyền lại trong gia đình hoặc đệ tử chân truyền.

- Công pháp này bí truyền đến mức hiện trên thế giới và trong nước có rất nhiều ý kiến khác nhau và vẫn chưa đi đến thống nhất.

II. Thức chuẩn bị và tên gọi các chiêu thức:

2.1. Chuẩn bị (dự bị thức): Giãn mở thân pháp và các động tác rung/ lắc tay và thân.

- Lắc các ngón tay: Chân đứng bằng vai, hai mũi chân hướng vào nhau từ 5 – 10 độ, gối hơi chùng một chút, hai tay đưa về phía trước, ngang vai, lòng bàn tay úp xuống. Lắc hoặc rung động các ngón tay 36 lần.

- Rung, lắc ngón tay, bàn tay, cánh tay …: Vẫn tư thế trên, rung lắc toàn bộ ngón tay, bàn tay, cánh tay 36 lần.

- Vẩy tay như kiểu dịch cân kinh 1 thức, khác ở chỗ là lúc hai tay đưa lên thì nắm hờ, khi vẩy ra phía sau thì mở tay ra. Vẩy như vứt ngón tay ra khỏi bàn tay, khi đưa tay về phía sau thì nâng gót, khi vẩy tay về phía trước thì hạ gót.

Vẩy 36 lần.

- Tiếp theo là vẩy tay về phía trước, lên trên. Khi hay tay ở vị trí trước ngực thì nắm hờ, khi vẩy lên trên, về phía trước thì mở các ngón tay ra (hai tay hình chữ V). Cũng vẩy như vứt ngón tay ra khỏi bàn tay.

- Cuối cùng là vẩy tay giống như kiểu dịch cân kinh 1 thức, khác ở chỗ là lúc hai tay đưa lên thì nắm hờ, khi vẩy ra phía sau thì mở tay ra. Vẩy như vứt ngón tay ra khỏi bàn tay, khi đưa tay về phía trước thì nhấc gót, khi vẩy tay về phía sau thì hạ gót.


Hơi thở vào ra sâu, đều và tự nhiên

2.2. Tên gọi và thứ tự của từng chiêu thức

1. Cung thủ đương hung – Ôm cầu trước ngực

2. Phong bải hà diệp – Gió lay cánh sen

3. Chưởng thác thiên môn – Nâng trời, đẩy núi

4. Thần long quyển trụ – Rồng thần quấn cột

5. Thiết ngưu canh địa – Trâu sắt cày đất

6. Tinh thùy bình giã – Sao trời đổi ngôi

7. Tả cố, hữu phán – Ngiêng phải, ngó trái

8. Tam bàn lạc địa – Ba cái bàn tọa hạ thổ

9. Thanh long thám trảo – Rồng xanh thử móng

10. Mãnh hổ xuất lâm – Hổ ra khỏi rừng

11. Đả cung, kích cổ – Kéo cung, đánh trống

12. Minh nguyệt đại giang – Trăng sáng soi sông

Lưu ý:

- Các chiêu từ 1 – 4 hít vào trước, thở ra sau

- Các chiêu 5, 7, 9 thở ra trước, hít vào sau

- Các chiêu 6, 8, 10 hít vào trước, thở ra sau và có vận công, xuất khí, hét vang để xả tà khí

- Các chiêu 11, 12 thu công và điều hòa khí huyết

- Khác với bát đoạn cẩm, dịch cân tẩy tủy kinh phải thực hiện theo đúng thứ tự từ 1 – 12.

III. Các chiêu thức cụ thể:

1. Chiêu thứ nhất: Cung thủ đương hung (ôm cầu trước ngực)

Hai tay hoành một vòng từ bên thân lên trước ngực thành hình cung như ôm trái cầu trước ngực, đồng thời hít vào.

Hai tay trở về vị trí ban đầu, thở ra. Tùy theo từng người cần tăng cường cho đan điền tinh/ khí/ thần và ý thủ tại quan nguyên/ khí hải hay đản trung sau mỗi nhịp thở.

Lặp lại 6 lần.

2. Chiêu thứ hai: Phong bải hà diệp (gió lay cánh sen)

Hai cánh tay đưa lên song song đến ngang vai thì xòe ngang sang hai bên, ngang tầm vai, đồng thời hít vào (bàn tay ngửa).

Hai cánh tay lật sấp và từ từ hạ xuống hai bên hông, đồng thời thở ra.

Lặp lại 6 lần.

3. Chiêu thứ ba: Chưởng thác thiên môn (hai tay nâng trời, đẩy núi)

Chiêu này giống như “Song thủ thác thiên – Nâng trời, đẩy núi” trong Bát đoạn cẩm.

Lặp lại 6 lần.

4. Chiêu thứ tư: Thần long quyển trụ (rồng thần quấn cột)

Hai tay dang ngang/ lòng bàn tay ngửa lên, từ từ xoay eo vặn mình sang trái. Tay phải uốn vặn trước thân, tay trái uốn vặn phía sau, từ từ đứng thẳng lên đồng thời hít vào (hai tay ôm lấy thân mình như ôm cây cột).

Xoay eo trở về trạng thái thăng bằng ban đầu, hai gối và toàn thân chùng xuống, hai tay thẳng/ ngang vai/ lòng bàn tay ngửa, đồng thời thở ra.

Làm theo chiều ngược lại và lặp lại 6 lần.

5. Chiêu thứ năm: Thiết ngưu canh địa (trâu sắt cày đất)

5.1. Thực hiện bên trái trước.

- Chân đứng tấn mã bộ trái, hai tay ôm cầu (tay phải ở trên), đồng thời thở ra.

- Chân trái dồn xuống cung bộ trái, tay phải án địa, tay trái phiên thiên, đồng thời hít vào.

- Xoay về mã bộ phải, hai tay ôm cầu (tay trái ở trên), đồng thời thở ra.

- Chân phải dồn xuống cung bộ phải, tay trái án địa, tay phải phiên thiên, đồng thời hít vào.

- Hai chân trùng về tư thế mã bộ, hai tay nắm lại, tay trái đặt ngang hông, tay phải để vuông trước mặt, ngang tầm vai, đồng thời thở ra.

Thu thế:

- Xoay eo về phía trước, chân chùng, hai tay song song trước mặt, ở ngang tầm vai, đồng thời hít vào.

- Kéo chân trái về sát chân phải, kênh gót, người đứng thẳng, đồng thời thở ra, dẫn khí từ ngực xuống gót chân ở huyệt dũng tuyền; tiếp đến là hạ gót, chùng gối.

5.2. Tiếp theo thực hiện theo chiều ngược lại (bên phải).

Lặp lại 6 lần.

6. Chiêu thứ 6: Tinh thùy bình giã (sao trời đổi ngôi)

Hai chân song song, hai tay đưa lên song song trước mặt, bàn tay ngửa, hai tay nắm quyền từ thừ thu về hông, hai chân hạ thấp, thân lỏng, lắng thần, sụp mí, ý thủ gót chân, đồng thời hít vào.

Hai chân bật thẳng dậy, hai tay phóng song chưởng về phía trước như mũi tên, đồng thời thở ra.

Lặp lại 6 lần.

7. Chiêu thứ bảy: Tả cố, hữu phán (nhìn phải, ngó trái)

- Hai chân song song bằng vai, hai tay song song mặt đất, lòng bàn tay hướng lên trên, xoay eo về bên trái, tay phải đẩy lên ngang mặt, tay trái đẩy phía sau thắt lưng, chùn gối, chùng chân đồng thời thở ra.

- Xoay eo chuyển thân về trạng thái ban đầu, đứng thẳng dần lên, đồng thời hít vào.

- Tiếp tục làm theo chiều ngược lại.

Lặp lại 6 lần.

8. Chiêu thứ tám: Tam bàn lạc địa (ba cái bàn tọa hạ thổ)

- Chân mở rộng hơn vai, hai tay hoành một vòng về phía trước, song song trước vai (bàn tay sấp), hít vào; tiếp theo hạ toàn bộ 3 phần áp đất gồm 2 lưng bàn chân, 2 lòng bàn tay và mặt, thở hết ra.

- Từ từ đứng dậy, hít vào; cuộn 2 tay nén khí xuống đan điền và thở ra.

Lặp lại 6 lần.

9. Chiêu thứ chín: Thanh long thám trảo (rồng xanh dò móng)

9.1. Bên trái:

- Chân mở bằng vai, hai tay nắm quyền để bên hông. Tay phải mở các ngón ra như móng rồng (khác với hổ trảo) đẩy về bên trái, chếch lên 45 độ cùng với xoay eo, đồng thời thở ra.

- Xoay eo về trạng thái ban đầu, tay phải xoay qua gáy và thu quyền về hông phải, đồng thời hít vào.

9.2. Bên phải: Lặp lại các động tác ở mục 9.1. nhưng theo chiều ngược lại.

Lặp lại 6 lần.

10. Chiêu thứ mười: Ngọa hổ xuất lâm (hổ ra khỏi rừng)

- Chân bước về bên trái, hai tay đưa lên song song bằng mặt, mở tay sang hai bên, lòng bàn tay ngửa lên và từ từ án xuống, lòng bàn tay chuyển dần sang úp xuống đồng thời hít vào.

- Xoay người hướng cung bộ phải và đẩy song chưởng, hét to (kia, ha …) đồng thời thở ra.

- Xoay eo về phía trước, hai tay án song song, đồng thời hít vào.

- Hai tay án xuống, người đứng thẳng, thu chân trái về, nhón gót trái dẫn khí từ đan điền trên xuống huyệt dũng tuyền, đồng thời thở ra, thở ra hết thì hạ gót, chùng gối.

Lặp lại 6 lần.

11. Chiêu thứ mười một: Đả cung, kích cổ (kéo cung, đánh trống)

- Chân trái bước bằng vai, hai tay hoành lên đỉnh đầu theo chiều từ trong ra, hai cánh tay giống như hai cánh cung, mở dần sang hai bên cho đến khi hai cánh tay thẳng hàng, lòng bàn tay hướng lên trên, đồng thời hít vào.

- Hai tay hạ xuống, ép xuống sau gáy, lưng gập, đồng thời thở ra (giống như hai bàn tay vỗ lên mặt trống).

- Người đứng thẳng, tay tay hoành sang hai bên song song, đồng thời hít vào.

- Chân trái thu về, hai tay buông xuống hông, đồng thời thở ra.

Lặp lại 6 lần.

12. Chiêu thứ mười hai: Minh nguyệt đại giang (trăng sáng soi sông)

- Chân trái mở bằng vai, hai tay hoành một vòng lên đỉnh đầu, mũi bàn tay hướng vào nhau, lòng bàn tay úp, thành vòng tròn giống như mặt trăng, đồng thời hít vào.

- Hai tay án thẳng từ đỉnh đầu tới sát đất, lòng bàn tay úp, đồng thời thở ra.

- Người đứng thẳng dậy, hai tay hoành một vòng về thế cung thủ, đồng thời hít vào.

- Hai tay án xuống, chuyển về vị trí ban đầu, chùng gối, đồng thời thở ra.

Lặp lại 6 lần.

III. Một số lưu ý khi tập luyện:

1. Uống 1/4 – 1/3 lít nước trước và sau khi tập, uống từng ngụm nhỏ một.

2. Mặc quần áo rộng/ lỏng, tốt nhất là mặc quần dùng dây rút (không dùng dây chun).

3. Hướng tập:

3.1. Mặt đối diện với hướng gió thổi tới.

3.2. Trường hợp không có gió:

- 05 – 07h: Mặt nhìn mặt trời

- 17 – 19h: Mặt nhìn mặt trời

- 11 – 13h: Mặt nhìn hướng Nam

- 23 – 24h: Mặt nhìn hướng Bắc.

Bài này được tổng hợp dựa trên bài giảng và thực hành của thầy Nguyễn Văn Thắng – Trưởng môn phái Thăng Long Võ đạo, các tài liệu tham khảo thêm và kinh nghiệm tập luyện của TĐT.

Hiệu chỉnh lại lần thứ nhất, ngày 09.02.2015

____________________

Đăng 10th February 2015 bởi Thích Đủ Thứ

Nhãn: Khí công - Dưỡng sinh

Thứ Hai, 12 tháng 4, 2021

Trường sinh Âm – Dương khí công (Thăng Long Võ Đạo)

Trường sinh Âm – Dương khí công 

I. Đạo dẫn thổ nạp (hít, dẫn khí)

Chuẩn bị:

– Chào mở đầu (nếu đã học võ thì chào theo kiểu của môn phải, nếu chưa thì hai chân đứng nghiêm, hai tay xuôi thẳng/ ép vào hai bên đùi cúi người về phía trước 30 độ).

– Hai chân mở rộng bằng vai và trụy gối, 2 cánh tay buông lỏng 2 bên hông; thu cằm, nổi ngực, hóp bụng, mắt nhìn thẳng.

Thực hiện: Hít vào người từ từ nổi lên theo hơi thở, đồng thời 2 cánh tay mở rộng sang 2 bên vai, mở theo hình vòng cung, hướng lên trời. Khi tay lên ngang vai là lúc khí căng ngực, khi tay lên cao nhất là lúc khí căng đan điền (không thể hít vào được nữa), dừng thở, đồng thời ép tay xuống tới ngang hông để dẫn khí xuống đan điền, thả lỏng đồng thời thở ra vào xuôi tay, thả lỏng xuống tự nhiên, hơi chùng gối (để dẫn khí xuống chân).

Thực hiện 3 lần.

II. Thái bảo quy điền (dẫn khí về đan điền)

Chuẩn bị: Giống bài 1. Thực hiện bên phải trước.

Thực hiện:

1. Bảo cầu xuyên thủ (Hai tay ôm cầu): Chân trái đứng yên, chân phải lùi về sau sao cho mũi bàn chân vuông góc với gót chân trước và cách chân trước bằng chiều dài bàn chân. Hai chân trước bằng chiều dài bàn chân. Hai bàn tay như ôm trái cầu trước bụng (bàn tay phải ở dưới, bàn tay trái ở trên).

2. Phiên thiên, án địa (Nâng trời ép đất): Tay phải từ từ nổi lên như đỡ trời, tay trái từ từ hạ xuống như ép đất, đồng thời chân trái trầm xuống, chân phải nổi lên (nổi gót). Đứng yên và thở hơi thở tự nhiên từ 5 – 10 hơi thở để gia trì năng lượng (thu mông, nhíu hậu môn).

3. Quân bình âm dương: Xoay người về sau, 2 tay dang ngang và bàn tay phải lật sấp, bàn tay trái nổi ngửa.

Tiếp theo thực hành bên trái như bên phải nhưng theo hướng ngược lại, thực hành 6 lần các động tác từ 1 – 3.

4. Thông chu thiên:

– Đại chu thiên (Mở chu thiên): Lặp lại chiêu đạo dẫn thổ nạp nhưng làm 10 lần.

– Tiểu chu thiên (Dẫn chu thiên): Hít vào 2 tay hoành lên đỉnh đầu, thở ra 2 bàn tay chắp lại rơi tự nhiên, thả lỏng và quán năng lượng lan tỏa xuống chân. Thực hiện 10 lần.

III. Ngọc nữ xuyên thoa (người đẹp cài trâm)

Chuẩn bị: Giống bài 1. Thực hiện bên phải trước.

Thực hiện:

1. Âm dương trang (hai bàn tay sấp ngửa): Chân trái hạ thấp và trụ lực toàn thân, chân phải thả lỏng và gót chân mở, 2 bàn tay hướng về sau 45 độ và cao 45 độ bàn tay trái ngửa ngang tầm trán, bàn tay phải sấp và chỉ vào cổ tay trái, mắt nhìn theo tay. Chân phải bước lên 1 bước và lệch 45 độ. Hai bàn tay (cả khuỷu tay) từ sau xoay dần về phía trước phải 45 độ gọi là “âm dương trang”. Gia trì 5 – 10 hơi thở.

2. Kiếm chỉ trang (dùng ngón trỏ làm kiếm): Tiếp theo, chân phải hạ thấp để trụ lực toàn thân và chân trái kéo lên sát chân phải, đồng thời thả lỏng, nổi gót, 2 bàn tay nắm lại chỉ còn 1 ngón, tay phải chỉ ngón trỏ ngang vai phải, tay trái để ngang eo trái và chỉ ngón trỏ về hướng bên phải (tay phải sấp, tay trái ngửa), đứng yên thở 5 – 10 hơi thở để gia trì năng lượng cho đan điền và đại tràng, lách, dạ dày.

3. Phủ trung bao nguyệt (tay che ngực, tay chắn mặt): Sau cùng đứng thẳng dậy, chân phải vẫn trụ lực, chân trái nổi gót đồng thời bàn tay phải đẩy về bên vai phải, mắt nhìn vào lưng bàn tay phải. Bàn tay trái đối diện giữa ngực. Đứng yên thở 5 – 10 hơi thở để gia trì cho tâm và phế.

4. Âm dương phối triển (kết hợp âm dương): Chân trở về vị trí ban đầu; hai tay phiên thiên, án địa và thu về tương tự như đoạn 3 của bát đoạn cẩm (hai lòng bàn tay ngửa, tay phải đặt dưới). Gia trì 5 – 10 hơi thở.

5. Ngoại phóng, nội thu (thu phóng khí): Từ từ nâng hai tay lên ngang ngực, lòng bàn tay hướng về phía trước đồng thời hít vào; đẩy song chưởng về bên phải, thu tay về, đẩy song chưởng về phía trước, thu tay về, đẩy song chưởng về phía sau.

Khi thu tay về thì hít vào, khi đẩy ta thì thở ta; cuối tầm chưởng thì thở mạnh, hơi gập người, thóp đan điền, nhíu hậu môn (kích thích mạch đốc tại mệnh môn) để đẩy/ xả hoàn toàn tạp khí, tinh thần hướng ra ngoài khi thở ra, hướng vào trong khi hít vào. Lặp lại 3 lần.

6. Đối chưởng trang (song chưởng ngược nhau): Chân trái bước chéo 45 độ lên phía trước, về phía trái, xoay người 180 độ đồng thời đẩy song chưởng ngược về phía sau, mũi bàn tay phải hướng lên trên, mũi bàn tay trái hướng xuống dưới (song chưởng ngược). Đứng yên thở 5 – 10 hơi thở để gia trì cho cột sống, phối và kết nối tâm – thận.

7. Bát quái trang (chụm mũi bàn chân, dang tay, vặn người): Từ tư thế đối chưởng trang ta trụ vào chân phải và kéo bàn chân trái lên sát chân phải (nổi gót). Hạ gót chân trái xuống (mũi bàn chân chụm vào nhau, mở gót thành hình chữ V) và từ từ xoay eo và chuyển cột sống về phía sau 135 độ. Tay phải lật sấp và bàn tay trái lật ngửa, mắt nhìn theo bàn tay phải. Đứng yên thở 5 – 10 hơi thở để gia trì cho cột sống, mắt và khớp cổ.

8. Quân bình âm dương (điều hòa chân khí): Chân trái lùi về sau chân phải và xoay mặt về phía trước (tay phải ngửa, tay trái sấp). Đứng yên thở 5 – 10 hơi thở để điều hòa tâm, khí và chuẩn bị cho chiều ngược lại.

Đảo thái cực, lặp lại các chiêu thức từ 1 – 6 (ngọc nữ xuyên thoa) theo chiều ngược lại.

IV. Âm dương pháp chưởng (một tay chắn đầu, tay kia đấm ra, miệng hét to)

1. Chuẩn bị: Chân trái hạ thấp chịu lực, chân phải bước lên phía trước bên phải 45 độ, cách chân trái 30cm (gót xuống trước), chân trái làm trụ. Lòng bàn tay phải hướng về bên phải 45 độ, chéo 45 độ, cách mặt 30cm, mũi bàn tay trái chỉ vào khớp khuỷu tay phải (lòng bàn tay cũng chéo 45 độ so với mặt đất).

2. Xoay tay (đổi theo chiều ngược lại): Bàn tay trái xoay nửa vòng cầu từ dưới lên trên, bàn tay phải xoay nửa vòng bán cầu từ trên xuống dưới. Lúc này bàn tay trái ở trên và mũi bàn tay phải chỉ vào khớp khuỷu tay trái, đồng thời trọng lượng dồn vào chân trước và chân trái đẩy thẳng ra sau như chân chống xe đạp.

3. Trang công (trở về tư thế ban đầu): Xoay tay theo hướng ngược lại với vận thủ. Tức là bàn tay phải xoay nửa hình bán cầu đi lên và bàn tay trái xoay nửa hình bán cầu đi xuống, mũi bàn tay trái lại chỉ vào khớp khuỷu tay phải, đồng thời dướn người lên hoàn toàn trụ lực vào chân phải và gót nổi cao.

4. Trầm khí nội đan: Chân trái rẽ lên ngang với chân phải, khoảng cách bằng hai vai. Hai tay hạ xuống và bắt chéo ngang rốn, người hơi cúi đồng thời hít một hơi dài, ép khí xuống đan điền (khoang bụng dưới). Mắt nhắm lại để ý niệm hướng vào trong. Tiếp tục hít sâu thêm và nén xuống đan điền, 2 tay hoành tròn về bên trái, tay phải nắm lại đặt trên lòng bàn tay trái và trọng lượng hạ thấp. Thở ra, đồng thời tung cú đấm thẳng về phía vai phải, tay trái vòng để ngửa trên đỉnh đầu – cùng một tiếng hét “Ha”.

Đứng yên thở 5 – 10 hơi thở để điều hòa tâm, khí và chuẩn bị cho chiều ngược lại.

 V. Thu công và rung chấn càn khôn (thu khí, xả tạp khí nếu còn sót lại)

1. Thu công: Thu chân và hai tay về tư thế chuẩn bị, toàn thân thả lỏng. Lặp lại động tác đạo dẫn, thổ nạp 3 lần.

2. Rung chấn càn khôn (xả khí tạp nếu còn sót lại trong quá trình luyện tập): Dậm mạnh chân trái và đấm quyền phải hướng xuống, đồng thời trợn mắt hét to âm “Ha”. Cũng như vậy ta lại dậm mạnh chân phải và đấm quyền trái, đồng thời trợn mắt hét to âm “Ha”. Lặp lại 6 lần.

3. Chào kết thúc (nếu đã học võ thì chào theo kiểu của môn phải, nếu chưa thì hai chân đứng nghiêm, hai tay xuôi thẳng/ ép vào hai bên đùi cúi người về phía trước 30 độ).

Ghi chú: Bài này do mình học của Thầy Nguyễn Văn Thắng – Trưởng môn Thăng Long Võ Đạo và cảm nhận của cá nhân mình.