Thứ Tư, 2 tháng 3, 2022

Tiên thiên khí công nguyên pháp

 Tiên thiên khí công nguyên pháp


Trong vài năm gần đây, luyện tập khí công đang dần trở thành một trào lưu được nhiều người tìm hiểu và luyện tập. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết và tập đúng. Luyện tập khí công không những giúp cho cơ thể luôn trong sáng và bền vững mà còn giúp kết hợp trị liệu, nhưng nếu tập sai, sẽ gây không ít hậu quả cho người tập.  TĐT biên soạn lại theo những bài giảng và tài liệu của Đại sư Nguyễn Văn Thắng – Trưởng môn phái Thăng Long Võ Đạo.



Tiên thiên khí công nguyên pháp


Tiên thiên khí công nguyên pháp là công pháp tĩnh công, đó là phương pháp dùng Hậu thiên để tăng cường cho Tiên thiên.


Bình thường, Tiên thiên khí vẫn vận hành trong cơ thể theo một chu trình khép kín nhất định. Nhưng tùy từng căn cơ, sức khỏe và tuổi tác, quá trình vận hành có thể mạnh, có thể yếu hoặc có thể có những rối loạn cục bộ hay toàn thể mà làm cho cơ thể suy giảm tinh lực dẫn đến bệnh tật hoặc lão hóa (nhanh hoặc chậm).


Tập tiên thiên khí công nguyên pháp là dùng Hậu thiên (cái do luyện tập và có) tăng cường cho Tiên thiên (cái có sẵn từ khi sinh ra), làm cho dòng năng lượng trong người luôn xuôi chảy đều đặn và thông thoáng. Do đó khí huyết luôn lưu hành, kinh lạc thông suốt, âm dương quân bình, thủy hỏa tương tế làm cho năng lượng sinh hoạt trong cơ thể luôn quân bình và tăng trưởng để thích nghi cao nhất với Tự Nhiên – có tác dụng phòng bệnh, trị liệu, phục hồi chức năng, đem lại sức khỏe và tuổi thọ.


Tiên thiên khí công nguyên pháp là một công pháp tĩnh khí công chân truyền của môn phái Thăng Long Võ Đạo đã mang lại lợi ích thiết thực về sức khỏe và tuổi thọ cho công đồng trong nhiều năm qua.


Tư thế ngồi bán già hoặc kiết già, thời gian tập từ 22 – 24h hàng ngày (các giờ khác đều được nhưng không tốt bằng). Mặt nhìn về hướng Bắc.

Phần I: Điều thân – Điều tức – Điều tâm


Bước 1: Điều thân


- Điều thân động để giãn mở cân cơ xương bằng các bài tập động công như: Bát đoạn cẩm, Dịch cân, tẩy tủy kinh hay Cửu thủ nhuyễn công …. Nếu không biết các công pháp trên thì có thể tùy ý khởi động như các môn thể thao nói chung, hay bài khởi động trong võ thuật. Nếu cũng không nắm được các cách khởi động này thì có thể khởi động theo 4 động tác cơ bản sau đây:


+ Hai bàn tay đan vào nhau, áp vào bụng dưới, ý thủ nội đan, (Tinh thần hướng vào phần bụng dưới). Tiếp theo hít khí vào, phình bụng hết cỡ thì đồng thời xoay hai lòng bàn tay và đồng thời đẩy về phía trước như xô vật nặng, lúc này toàn thân căng cứng như gỗ. Khi thở ra, toàn thân thả lỏng và hai bàn tay xoay hướng lòng bàn tay vào hạ đan điền (phần bụng dưới). Tinh thần nội thủ vào trong (như phần chuẩn bị ban đầu) Làm như trên 5 lần.


+ Vẫn từ tư thế chuẩn bị; Khi hít vào hai lòng bàn tay hướng lên trên và đẩy thẳng như đẩy trời (Song thủ thác thiên). Lúc này toàn thân căng cứng như gỗ. Khi thở ra, toàn thân thả lỏng và hai bàn tay xoay, hướng lòng bàn tay ôm vào hạ đan (phần bụng dưới). Tinh thần nội thủ đan điền. Làm 5 lần.


+ Từ tư thế chuẩn bị; Khi hít vào xoay lòng bàn tay hướng và đẩy xuống lòng đất, như ép đất (Song thủ án địa). Toàn thân căng cứng như gỗ. Khi thở ra, toàn thân thả lỏng và hai lòng bàn tay xoay hướng lòng bàn tay ôm vào hạ đan điền (phần bụng dưới). Tình thần nội thủ đan điền. Làm 5 lần.


+ Từ tư thế chuẩn bị; Khi hít vào xoay lòng bàn tay hướng sang hai bên vai và đẩy thẳng, như đẩy khối nặng sang hai bền (Thủ thác thiên cân). Toàn thân căng cứng như gỗ. Khi thở ra, toàn thân thả lòng và hai lòng bàn tay xoay, hướng lòng bàn tay ôm vào hạ đan điền (phần bụng dưới). Tinh thần nội thủ đan điền. Làm 5 lần.



- Điều thân tĩnh: Ngồi tư thế kiếp già hoặc bán già, bắt chân trái lên trước hay chân phải lên trước (gọi là Hàng ma tọa hay Cát tường tọa). Cột sống luôn thẳng, toàn thân mềm, đặt 1 gối hoặc đệm mềm 3 – 4 cm dưới mông. Hai tay ôm ấn Kim cang pháp bảo (Hai tay đặt ngửa. Nam tay trái lên trên, nữ tay phải lên trên. Hai ngón tay cái chạm nhau). Lắng thần sụp mi, tức là tinh thần hướng vào trong – hai mắt buông rèm khép nhẹ, để một khe sáng hướng xuống rốn. Vì mở mắt sẽ động tâm ra ngoài, còn nhắm mắt hẳn sẽ động nhãn cầu và gây ảo giác.



Bước 2: Điều tức


2.1 Thải trọc khí.


- Thở trọc khí trong ổ bụng ra ngoài qua kẽ răng, đồng thời từ từ gập người xuống để ép hết trọc khí trong ổ bụng.


- Hít vào bằng mũi để lấy thanh khí vào phổi, đồng thời từ từ ngồi thẳng dậy.


- Quá trình trên làm 3 lần (tức 3 nhịp thở)


2.2 Thông đường hô hấp.


Ta hít một hơi dài từ mũi vào đan điền và thở hơi dài từ đan điền (bụng dưới) qua mũi. Làm 6 nhịp thở.


2.3 Khuếch tán khí nội đan.


Hít vào dẫn khí từ mũi xuống đan điền. Thở ra lan tỏa khí trong ổ bụng. Làm 6 nhịp thở.



Bước 3. Điều tâm.


Tinh thần yên tĩnh nhìn vào nội đan, hơi thở tự nhiên, đếm nhẩm chậm rãi từ 1 - 36.




Phần 2: Công pháp chính



Bước 1: Kích hoạt nội đan


Theo dõi hơi thở tại đan điền, biết bụng phình ra và hóp vào. Quá trình này có dụng công nhẹ để làm ấm nóng đan điền và khí vận hành rõ trong nội đan.



Bước 2: Khai mở Mệnh môn


Khi hít vào nhận biết đan điền (dưới rốn 3cm). Khi thở ra quán chiếu và theo hơi thở đẩy năng lượng sang Mệnh môn (đối diện với đan điền ở phía thắt lưng). Khi qua một số hơi thở, chúng ta thấy vùng Mệnh môn căng tức như bị đè nén. Tiếp tục theo dõi hơi thở và lan tỏa năng lượng thì một lúc sau ta thấy vùng thắt lưng xuất hiện hơi ấm. Sức ấm nóng tăng dần và chúng ta sẽ thấy một dòng nóng ấm xông lên cột sống, làm cho vùng lưng trên ấm dần (hiện tượng thông lửa). Cảm giác lúc này sống lưng như giãn ra và kéo dài – Tại vùng thắt lưng nhẹ bẫng. Lúc này, Mệnh môn đã mở rộng hơn, việc tiếp nhận và lan tỏa năng lượng sẽ dễ dàng và thông thoáng hơn (căng tức – nóng ấm – thông thoáng).



Bước 3: Khai mở Hội âm


Hít và nhận biết Đan điền, khi thở ra quán chiếu và đẩy năng lượng xuống Hội âm (tâm lực này là khoảng rỗng như quả trứng ở giữa bộ phận sinh dục và hậu môn).


Qua một số hơi thở ta thấy vùng Hội âm giãn mở, năng lượng dao động nhẹ nhàng như làn sóng tròn (như khi ta ném viên sỏi xuống nước). Tiếp túc theo dõi hơi thở và quán chiếu năng lượng ta sẽ thấy cảm giác khí (Khí cảm) rõ hơn, tại vùng Hội âm như lỏng ra và dần dần như rỗng. Vùng Hội âm sẽ cảm thấy mát dần và khí xông lên sẽ làm cho vùng thắt lưng có cảm giác mát nhẹ nhàng như thoa dầu bạc hà và như bong bóng xà phòng loang dần về hai thận. Như vậy, Hội âm đã giản mở rộng hơn, địa khí xông lên hai thận dễ dàng, sẽ làm vượng khí ở thận (rỗng – mát).

Bước 4: Xoay chuyển nội khí trong hạ đan điền (Khoang bụng dưới)


Khi hít vào ta dẫn khí từ Hội âm lên Mệnh môn, dừng lại một chút. Tiếp tục hít đẩy khí sang khí hải (Huyệt dưới rốn độ 3cm), dừng lại một chút. Khi thở ra đẩy năng lượng xuống Hội âm. Quá trình này cũng như toàn bộ công pháp, đều mượn hơi thở để khai mở các tâm lực và dẫn năng lượng.


Bước này sẽ làm cho nội khí trong Đan điền mạnh hơn và sẽ tăng cường năng lượng để thông hoạt hai thận.



Bước 5: Thủy hỏa ký tế


Khi hít vào ta dẫn năng lượng từ Ấn đường xuống Đan điền. Thở ra quán chiếu đẩy năng lượng sang Mệnh môn. Chỉ cần dẫn dắt một số hơi thở, ta sẽ thấy năng lượng một đi xuống, một xông lên rất rõ ràng (Hoặc một ly tâm, một hướng tâm). Năng lượng từ Thượng đan xuống đan điền sẽ nối thẳng xuống Hội âm và năng lượng từ Mệnh môn sẽ tiếp nối với năng lượng từ Hội âm xuông lên tạo thành một vòng khép kín. Lúc này chúng ta có thể dụng công nhẹ hơn, chỉ cần dụng ý để vận chuyển khí, sau một số nhịp thở thì chu thiên khí tự vận hành mạnh mẽ, đường xuống đường lên rõ ràng. Khi đó đỉnh não sẽ xuất hiện một ổ hưng phấn nhỏ và phần bụng dưới khí lực lan tỏa mạnh hơn.


Hơn nữa, Tâm hỏa tàng thần và Thận thủy tàng tinh sẽ kết nối với nhau hòa hợp hơn, mạnh mẽ hơn.



Bước 6: Giới khí nội quan


Khi hít vào ta cảm nhận năng lượng thu quy về Đan điền, khi thở ra cảm nhận nặng lượng từ Đan điền lan tỏa toàn thân. Qua phép thở này toàn thân sẽ ấm nóng và năng lượng sẽ lan tỏa đều trong toàn thân.



Bước 7: Kết nối năng lượng (Kết nối càn khôn)


Thở ra ta cảm nhận năng lượng cơ thể qua da lan tỏa khắp pháp giới. Và khi hít vào ta cảm nhận năng lượng từ pháp giới qua da xâm nhập toàn thân. Đây là phép thở qua da hay còn gọi là phép thở Tịnh tức – phép thở thanh nhẹ nhất. Qua phép thở này thì toàn bộ cơ thể cùng thở, toàn bộ lục phủ ngũ tạng cùng thở, toàn bộ mọi tế bào cùng thở và 84.000 lỗ chân long cùng thở. Toàn bộ năng lượng cở thể đã hòa hợp tuyệt đối với năng lượng của vũ trụ.


Qua phép thở này mọi trọc khí trong người sẽ ra ngoài và tiếp nhận năng lượng mới của vũ trụ. Cơ thể sẽ khỏe hơn, sinh lực sẽ dồi dào hơn, trí tuệ sáng suất hơn, tâm sẽ thanh tịnh hơn.


Đây là 1 trong 3 phép thở cao nhất trong Thánh tức (Tịnh tức). Tức là hơi thở Dũng tuyền, hơi thở Đan điền và hơi thở qua da.



Phần 3: Thu công


Tất cả mọi pháp khí công, dù động, dù tĩnh đều phải Thu công.


Bước 1:


Tâm an trú tại Đan điền để theo dõi hơi thở, để hơi thở tự lắng (dùng hữu thức để kiểm soát vô thức). Khi hơi thở êm dịu và thanh nhẹ thì tâm sẽ an lắng, thân sẽ thư giãn tự nhiên. Vì hơi thở là cầu nối giữa Tâm và Thân nên khi có hơi thở tốt thì Thân Tâm sẽ an lắng, mọi bí kết sẽ bị pháp vỡ, sự cân bằng sinh học được lập lại. Vì sự thanh tịnh là định lực của vũ trụ, sẽ đưa chúng ta về với trật tự thể của vũ trụ, trở về với sự hòa hợp tuyết đối. Khi đó con người sẽ hòa hợp với Đại tự nhiên, mà Tự nhiên vận hành với quy luật của vũ trụ, đó là Đạo.


Bước 2:


Sau khi an trụ khí tại Đan điền, chúng ta dùng ý để vận hành khí trong Đan điền xoay tròn theo chiều kim đồng hồ 36 vòng để quy nguyên tam bảo, xoay vòng nhỏ rồi xoay vòng lớn, tiếp theo xoay ngược chiều kim đồng hồ, vòng lớn trước, vòng nhỏ sau.



Phần 4: Xả pháp



Cùng giống như xả thiền


- Bước 1:


Hướng tâm ra ngoài


- Bước 2:


Nháy mắt động thần


- Bước 3:


+ Rung động toàn thân


+ Co duỗi chân


+ Đấm huyệt dũng tuyền


- Bước 4:


+ Khởi động lại và xoa bóp các khớp từ trên xuống dưới.


+ Dùng lòng bàn tay vỗ toàn thân (cả trước và sau).


+ Tập lại 1 bài động công (Bát đoạn cẩm, Dịch cân kinh hoặc Cửu thủ nhuyễn công) 



Chú ý:


-          Khi luyện tập công pháp này thì tâm phải an lắng


-          Khi tâm trạng bất an thì không nên vận hành tiên thiên


-          Cột sống phải luôn luôn thẳng, thân mềm


-          Từ pháp chính, lưỡi đặt nhẹ lên chân hàm trên để kết nối chu thiên


-          Không được giật hậu môn, khí âm sẽ xông lên não, sẽ dần hư não


-          Nên tập những lúc yên tĩnh để dễ định tâm


-          Người già, người yếu, người bệnh càng phải năng tập


-          Mọi lúc, mọi nơi đều có thể tập luyện được.







Thứ Ba, 11 tháng 1, 2022

Lấy năng lượng đất trời - Khái Thái Âm và Khí Thái Dương

1. Lấy Khí Thái Dương: Tháng 2,4,5
Trụ chân phải, tay trái mở cao, tay phải mệnh môn
18-24 hơi thở




2. Lấy Khí Thái Âm, Thủy Khí: Tháng 8, 10, 11
Lấy Khí thái âm và thủy khí vào giờ hợi và giờ Tý - từ 9h đến 1h đêm
Thái âm lấy theo 2 tư thế. 1- song long chầu nguyệt ( ngồi dựa lưng vào ghế, dơ hai tay ngang mặt và nhìn vào mặt trăng). 2 - mệnh môn thái nguyệt. ( quay mệnh môn để mặt trăng dọi vào mệnh môn. Tư thế ngồi hơi cứ để kéo căng mệnh môn)
Thời gian lấy thái âm nữ 5 nam 3. Nữ khoảng 15 đến 20'. Nam 10 đến 15'

Thời gian lấy thái âm nữ 5 nam 3. Nữ khoảng 15 đến 20'. Nam 10 đến 15'
    
Lấy thủy khí thì ngồi thế trang công. 2 tay dơ song song với mặt đất. Lấy trong 3 tháng 8, 10, 11
Lấy thái âm vào thời gian trăng tròn tháng 8 từ 12 đến 18/8 âm lịch

Bát bộ trang công - TLVĐ (Thêm lấy thiên-địa khí --> Cửu pháp liên hoa)

Khí công là công phu tu luyện khí, gồm thời gian và chất lượng luyện công. Thông qua điều tâm, điều tức, điều tâm để thu nhận tinh hoa của trời đất (năng lượng) về trung tâm của đan điền. Qua đó sẽ thấu qua thượng đan, hạ đan để lan tỏa toàn thân. Làm cho khí huyết lưu hành, thủy dịch xoay vần, kinh lạc thông suốt, âm dương quân bình, thủy hỏa tương tế. Làm cho nhịp điệu sinh học của cơ thể thích nghi cao nhất với trời đất (thiên nhân hợp nhất).


Công năng của khí công bao gồm từ động công đến tĩnh công và thiền định, có tác dụng thông hoạt phổi và điều hòa khí huyết, kết nối tâm thận, tăng cường chuyển hóa gan, mật, nhuận tỳ vị, trong sáng tinh thần. Động công để giãn mở can cơ xương. Làm trẻ hóa bộ khung cơ thể. Tĩnh công để vượng tinh khí thần làm cân bằng, trẻ hóa hệ thống nội tạng. Thiền định để thanh tâm, dưỡng thần và phát huệ giác.

Tu luyện khí công sẽ làm chuyển hóa thân, tâm, làm cho bộ khung cơ thể (thân vật lý) vững bền. Bên trong làm vượng tinh - khí - thần (thân năng lượng) cũng sẽ làm cho trạng thái tâm thức thanh tịnh, an lạc và trí huệ (thân tâm linh). Các thầy khí công thường sống khoẻ mạnh, trường thọ và an lạc. Thông qua tu luyện khí công sẽ làm mạnh cân - cơ - xương, vượng tinh - khí - thần và làm ý trống tâm trong, sẽ làm tăng sức mạnh và sức bền sinh học, với trạng thái tâm thanh tịnh sẽ đưa đến sự bền vững và trẻ hóa thân tâm.

Trẻ hóa bằng bát bộ trang công

Có 8 tư thế đứng trang công (còn gọi là bát bộ trang). Đây là phương pháp thiền động, khai mở các tâm lực để lan tỏa năng lượng toàn thân và làm mạnh hệ thống cân - cơ - xương toàn thân. Sẽ đạt nội kiên ngoại cường. Cơ thể như kim cương bất hoại, trong sáng, rắn chắc và bền vững. Kết thúc bằng xoa bóp Tinh - Khí - Thần.

1. Khởi động: Thông thường toàn thân để giãn mở cân cơ xương.
2. Chuẩn bị: Đứng thẳng, 2 chân đứng ngang vai, 2 tay song song bên hông. Ngón cái bấm vào ngón trỏ.
3. Thải trọc khí: Thở ra, người từ từ gập xuống (thân vuông góc với chân). Hít vào, từ từ đứng thẳng dậy. Thực hiện 3 lần.
4. An trụ tâm: 2 tay chắp trước ngực, cằm thu, miệng ngậm tự nhiên, 2 gối lỏng. Ý niệm tại đan điền (khoang bụng dưới).

5. Hành pháp:
- Nhất đẩy sơn (đẩy một trái núi): Khi thở ra 2 bàn tay đẩy thẳng ra trước như đẩy trái núi ra xa. Tâm hướng ra ngoài. Hít vào, toàn thân thả lỏng, 2 tay chắp trước ngực. Tâm hướng về đan điền. Thực hiện 5 hơi thở (H 1).
- Nhị đẩy sơn: Thở ra, 2 tay đẩy sang 2 bên vai như đẩy 2 trái núi ra xa, tâm hướng ra ngoài. Hít vào 2 tay chắp trước ngực, toàn thân thả lỏng và tâm hướng về đan điền. Thực hiện 5 hơi thở (H 2).
- Tam đẩy thiên: Thở ra, 2 tay đẩy lên như nâng trời xanh, tâm hướng ra ngoài. Hít vào 2 tay chắp trước ngực, toàn thân thả lỏng và tâm hướng vào trong đan điền. Thực hiện 5 hơi thở (H 3).
- Tứ, tiền án địa: Thở ra, 2 tay ép xuống đất phía trước, tâm hướng ra ngoài. Hít vào, 2 tay chắp trước ngực, toàn thân thả lỏng, tâm hướng vào trong. Thực hiện 5 hơi thở (H 4).
- Ngũ, hậu án địa: Thở ra, 2 tay ép xuống đất phía sau hông, tâm hướng ra ngoài. Hít vào, 2 bàn tay chắp vào trước ngực, toàn thân thả lỏng, tâm hướng vào trong. Thực hiện 5 hơi thở.
- Lục, ôm trăng (thủy chung bao nguyệt): Vẫn đứng ở tư thế án địa, 2 tay từ từ chuyển xuống ôm trước bụng, như ôm vầng trăng. Cơ thể thả lỏng, hơi thở tự nhiên. Tâm hòa hợp giữa trời đất. Thực hiện vài hơi thở. Chiêu thức này mở trung tâm khí (H 6).
- Thất, ôm cây: (cung thủ đương hung). Từ tư thế ôm trăng, 2 tay từ từ hoành lên ôm phía trước ngực (như ôm cây). Cơ thể thả lỏng, hơi thở tự nhiên, tam hòa hợp giữa trời đất. Thực hiện vài hơi thở. Chiêu thức này mở trung tâm huyết (H 7).
- Bát, ôm đỉnh đầu (thập chỉ chầu thiên): Từ tư thế ôm cây, 2 tay từ từ hoành lên ôm đỉnh đầu (thập chầu thiên). Cơ thể thả lỏng, hơi thở tự nhiên. Thân tâm hòa hợp giữa trời đất. Thực hiện vài hơi thở. Chiêu thức này mở trung tâm tuệ giác (H 8).

6. Lấy năng lượng trời đất:
- Lấy địa khí: Vẫn đứng ở trang công, 2 bàn tay từ từ hạ xuống bên hông, lòng bàn tay hướng xuống đất bên hông. Hít vào, cảm nhận năng lượng vũ trụ từ huyệt Dũng Tuyền (giữa gan bàn chân) lan theo 2 chân đến đan điền. Thở ra cảm nhận từ đan điền, khí lực lan tỏa toàn thân. Thực hiện vài hơi thở.
- Lấy thiên khí: 2 tay từ tư thế trên, nâng lên như đỡ trời. Hít vào, cảm nhận năng lượng từ đỉnh đầu dẫn truyền đến đan điền. Thở ra, dùng ý lan tỏa năng lượng toàn thân.
- Thu công: Khóa nguyên khí (2 bàn tay chắp trước ngực và áp chặt, đếm từ 1 - 10) và khóa các trung tâm lực chính của cơ thể như khóa vùng não (2 tay nâng lên và nắm lại khóa chéo trước đỉnh đầu. Đếm từ 1 - 10); Khóa tâm phế (hai tay hạ xuống bắt chéo trước ngực. Đếm từ 1 - 10); Khóa Thần khuyết (giữa rốn) (2 tay hạ xuống bắt chéo trước rốn. Đếm từ 1 - 10); Khóa Quan nguyên (2 tay hạ xuống bắt chéo trước xương mu. Đếm từ 1 - 10).

7. Xả pháp: 2 chân đứng thẳng lên, 2 tay thả lỏng buông xuôi bên hông và nắm chặt. Tiếp theo dậm 2 chân xuống đất 3 nhịp và 2 bàn tay mở ra, vẩy xuống đất 3 lần.

8. Xoa bóp tinh - khí - thần:
- Xoa bóp vùng Tinh: Dùng cườm tay giữa ngón cái và trỏ vỗ vào vùng giữa mệnh môn (giữa thắt lưng). Sau đó, dùng lòng bàn tay vỗ 2 bên thắt lưng (vùng thận). Tiếp theo vuốt nhẹ từ Mệnh môn sang 2 bên thận nhiều lần.
- Xoa bóp vùng khí: Bàn tay phải áp vào vùng rốn, tay trái áp ngoài tay phải. Xoay tròn từ trong ra ngoài theo chiều kim đồng hồ và từ ngoài vào trong ngược chiều kim đồng hồ. Làm nhiều lần cho ổ bụng ấm lên. Vượng tinh - khí - thần.
- Xoa bóp vùng thần: Vỗ đường giữa đỉnh đầu từ trước ra sau nhiều lần, kích thích não, màng não. Sau đó, dùng 10 đầu ngón tay gõ khắp đỉnh đầu. Tiếp tục Giác: Dùng 10 đầu ngón tay làm lược chải tóc, từ trước ra sau, từ trong ra ngoài, làm nhiều lần để tác động và kích hoạt các rễ thần kinh ngoại biên. Cuối cùng xoa 2 bàn tay vào nhau cho ấm nóng và áp vào mặt, khi có hơi nóng thì xoa từ trước ra sau cho thông kinh hoạt lạc và ấm các giác quan.

BS.VS Nguyễn Văn Thắng
http://thegioivohinh.com/diendan/showthread.php?171794-B%C3%A1t-B%E1%BB%99-Trang-C%C3%B4ng