Thứ Ba, 7 tháng 12, 2021

Lục diệu pháp môn và Thiền định

 Lục diệu pháp môn và Thiền định

Viết theo lời giảng và tài liệu của Bác sỹ, Đại sư Nguyễn Văn Thắng

Thiền định
Thực chất của thiền định theo tôn chỉ là bất hành văn, bất dụng ngôn, chỉ ấn tâm truyền giáo, giáo ngoại biệt truyền với một vài quyết pháp, để đạt trực chỉ minh tâm, kiến tính như Phật.
Chính lẽ đó càng viết về thiền, càng nói về thiền, càng bàn về thiền thì càng sai biệt, vì thiền là tìm sự giác ngộ (chứng ngộ bên trong bản thể của mình).
Với hiểu biết có hạn, sự chứng ngộ chẳng là bao, chắc chắn bài viết này sẽ còn nhiều thiếu sót. Mong các vị cao minh, thiện tri thức thực sự cảm thông và có những chỉ giáo, để bài viết nhỏ này phần nào đóng góp vào sự phong phú của rừng thiền Việt Nam.
Tôi không dám định nghĩa, mà chỉ nêu khái niệm đơn giản về thiền như sau:
Thiền định: Theo đạo Phật thì Thiền là tịnh (thanh tịnh để tâm được yên lắng), không có tán loạn, chất dứt các vọng tưởng, thoát được mê lầm.
Định: Là suy nghĩ, quán sát đúng đắn, có tác dụng phát ra trí tuệ. Vậy Thiền Định là nhiếp (giới) tâm yên lắng, để suy nghĩ, quán sát đúng đắn, có tác dụng phát sinh ra trí tuệ (giới, định, tuệ).
Thiền là sự buông bỏ trong tỉnh thức, để cơ thể đạt công năng tối đa. Thiền là đưa tinh thần hướng nội để điều phục tâm thông qua nhịp thở. Từ từ buông bỏ những tác động bên ngoài, tiến tới buông bỏ những giao động bên trong để cho ý trống tâm trong (vì thông thường tâm trí chúng ta thường loạn động, từ  “ý biến thì tâm động” nên cổ nhân vẫn thường nói “ý mã, tâm viên” là vậy).
Tóm lại, tu thiền là phải loại bỏ trần cảnh hư vọng, bế nhiếp năm căn và đưa tinh thần hướng nội để điều phục tâm thông qua nhịp thở.
Các bước thực hành Thiền
Các phương pháp thực hành Thiền đều phải qua: Điều thân, điều tức, điều tâm và xả Thiền.
1. Điều Thân: là phải thực hiện tốt các khâu:
1.1. Vị trí ngồi Thiền:
Phải chọn nơi yên tĩnh (đặc biệt trong giai đoạn đầu vì công năng chưa cao). Nơi ngồi phải khô ráo, thoáng mát, tránh nóng và gió lùa.
1.2. Phải tắt đèn để bế thị giác, giảm tiếng động để bế thính giác.
1.3. Thời điểm ngồi Thiền:
Tốt nhất là sau 21 giờ (vì từ đây đến nửa đêm yên tĩnh, khí bẩn đã trầm lắng, khí sạch đang hình thành. Tuy nhiên ngồi thiền vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày đều tốt, nhưng công năng không cao bằng thời điểm trên.)
1.4. Tư thế ngồi Thiền:
Tốt nhất là ngồi kiết già trên Bồ đoàn, hoặc ngồi trên mặt phẳng có lót là được. Khi ngồi thì bắt tréo chân trái lên trước, chân phải lên sau, bàn chân ở giữa vế đùi. Không ngồi được kiết già thì ngồi bán già cũng được (không nên gượng ép, sẽ rất đau chân, nên khó nhập định).
Ngồi quay mặt về hướng Nam hoặc Đông Nam (hỏa – dương lực) để từ trường Bắc – Nam của trái đất phân cực mạnh với điện từ trường trong cơ thể. Để khí hải ở mạch Nhâm trước bụng là bể khí (âm khí – âm lực) sẽ hút dương hỏa ở phương Nam. Và như vậy, mạch Đốc thuộc dương ở phía sau sẽ hướng về phương Bắc. Ngồi thẳng cột sống, cằm hơi thu vào, để Bách hội – Thiên đột – Hội âm thẳng hàng cho khí vận dễ dàng.
Hai tay ôm ấn Kim cương tam muội, nam đặt bàn tay trái ở trên, nữ thì ngược lại. Hai ngón cái chạm nhau. Nách để hở một khoảng. Hai mắt nhắm hờ và nhìn vào đỉnh mũi để tinh thần dễ tập trung (không nên nhắm kín mắt vì dễ động nhãn cầu và gây ảo giác). Hai môi khép lại, hàm răng chạm nhẹ tự nhiên, đầu lưỡi đặt vào chân răng hàm trên. Nét mặt tươi tự nhiên như gương mặt Đức Phật.
2. Điều Tức:
Tập trung tinh thần để kiểm soát hơi thở, loại bỏ dần tạp niệm, cắt dứt dần các tín hiệu bên ngoài, trả lại nhịp thở về với tự tính. Ta phải xa rời ngoại cảnh, bế nhiếp năm căn, xoay tinh thần hướng nội để kiểm soát tâm thông qua nhịp thở. Khi nhịp thở thanh nhẹ ra vào như có như không, thì đó tâm thật sự an tịnh, như rỗng ra và sáng suốt. Khi đó năng lượng sẽ tỏa ra vô cùng và cũng hút vào vô cùng, sẽ kết nối cao nhất với đại tự nhiên, vũ trụ. Đạo dẫn và khai mở các tâm lực trong cơ thể, làm cho năng lượng sinh học của chúng ta được điều chỉnh ở mức phù hợp nhất, sẽ biến đổi chúng ta thành con người mới siêu việt hơn.
3. Điều Tâm:
Đây là khâu quan trọng nhất trong cả quá trình hành Thiền và cũng là đích cuối cùng của tu Thiền.
Khi ngồi Thiền tâm phải thanh thản, không bức xúc, không buồn phiền lo lắng, không suy nghĩ liên miên, tản mạn. Vì mục đích của thiền là hướng nội để điều phục tâm.
4. Xả Thiền.
Trong tất cả các phương pháp tu Thiền đều có xả Thiền, là khâu cuối cùng trong quá trình hành Thiền.
Mục đích của xả Thiền là để cơ thể chuyển dần từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động. Nguyên tắc chung thì trước tiên phải khởi động lại các khớp của cơ thể lần lượt từ trên xuống dưới bằng một số động tác cơ bản.
Tiếp theo xoa bóp toàn thân từ trên xuống dưới. Đặc biệt là vùng mặt, đan điền, mệnh môn và tứ chi. Sau đó đi bộ tại chỗ hoặc tản bộ bên ngoài thiên nhiên càng tốt.
Một số lưu ý khi tu Thiền.
-   Mỗi chúng ta phải mở rộng tâm hồn mình. Vì mở rộng tâm hồn mình sẽ xả bỏ được mọi chất chứa, bức xúc và đón nhận được mọi tinh hoa của cuộc đời. Phải sống tràn đầy tình thương yêu, từ bi, vị tha và vô ngã. Vì  “tình thương là một năng lực vĩ đại nhất để liên kết vũ trụ, liên kết loài người, đó là thông điệp của đất trời”.
-  Chúng ta phải biết ơn tất cả con người, tự nhiên, xã hội. Luôn làm phước và giúp đỡ mọi người. Đây cũng chính là chúng ta đang xây dựng một nền tảng vững chắc để bước vào hành Thiền.
-  Khi có các vấn đề bức xúc, nhức nhối, hay sức khỏe đột ngột sa sút nghiêm trọng, ta nên nghỉ ngơi hoặc bồi dưỡng hay đi dã ngoại kết hợp với thở sâu sẽ tốt hơn. Cơ thể luôn thả lỏng, tinh thần luôn thanh thản thì khí thăng giáng sẽ tốt hơn.
- Về ăn uống sinh hoạt:
+ Khi ngồi Thiền, người sạch sẽ, da thoáng, mặc quần áo rộng và phù hợp với thời tiết.
+ Nên ăn ít đạm, chất béo, chất tanh, đường, sữa. Chỉ nên ăn vừa đủ để hỗ trợ sinh lực khi luyện công. Nên ăn nhiều hoa quả tươi, rau củ tươi giàu chất vi lượng và vitamin. Thêm đỗ, vừng, lạc trong khẩu phần ăn và nên ăn gạo mới.
+ Nên uống nước khoáng hoặc nước lọc đun sôi để nguội. Có thể uống thêm trà xanh hoặc nước vối. Nên hạn chế uống các loại nước có ga hoặc chất màu.
+ Sinh hoạt hợp với tự nhiên và xã hội, vô tư, yêu đời.
+ Về ăn cũng có ba góc độ khác nhau: ăn chay, ăn điều chỉnh chế độ hợp lý và ăn tự do.
-> Ăn chay chỉ nên dành cho những người xuất gia. Còn tại gia thì vẫn còn tính dục, chưa nên ăn chay vì dễ mất năng lượng và loạn động, khó tu Thiền.
-> Tốt nhất là khi tại gia nên điều chỉnh chế độ ăn hợp lý để năng lượng kết nối trên dưới, vừa đảm bảo cuộc sống bình thường, vừa đủ năng lượng thanh nhẹ để tu Thiền.
-> Còn ăn tự do dành cho những người phàm tục, không thể tu Thiền.
Thực tiễn thực hành Thiền ở các nước cũng như ở Việt Nam. Phương pháp Thiền được nhiều Quý Thầy sử dụng và học viên đón nhận vẫn là phương pháp quán tức (tức là dùng ý thức để điều phục tâm thông qua nhịp thở.). Ngay cả Đức Phật Thích – ca – mâu – ni trước khi đắc đạo cũng dùng phương pháp này.
Tuy nhiên phương pháp quán tức cũng có nhiều pháp: như quán niệm hơi thở của Đức Phật Thích – ca – mâu – ni. Chỉ quán thiền môn tứ pháp của Đức Đạt – ma sư tổ. Lục diệu pháp môn của Đại sư Chí Nghĩ thiên đài tông Phật giáo sáng lập. Với khuôn khổ bài viết này, tôi xin giới thiệu phương pháp Thiền theo “Lục diệu pháp môn”.

Lục diệu pháp môn
Là công pháp cơ bản của Phật gia tọa đan. Dựa vào Lục diệu pháp môn của Đại sư Trí Nghĩ: người tu theo công pháp Lục diệu pháp môn chủ yếu căn bản là nội hành, tam thừa đắc đạo kinh Phật. Ngồi trên thảm cỏ dưới bóng cây hay ngồi nơi thoáng mát, nội tư yên tĩnh, một số, hai tùy, ba chỉ, bốn quán, năm hoàn, sáu tịnh. Cứ thế tiến hành chắc sẽ đắc đạo. Công pháp này mang sắc thái Phật giáo tự nhiên, dễ luyện. Cụ thể chia làm sáu bước như sau:
1. Phép số tức:
Sau khi làm tốt công tác chuẩn bị luyện công, hai mắt hơi nhắm, không suy nghĩ lung tung, tập trung ngồi yên tĩnh môt lát, giúp hô hấp bình hòa. Sau đó thở bằng mũi, đầu tiên đếm hơi thở hoặc đếm hít vào hoặc đếm thở ra hay ngược lại. Đếm một vòng là 10 nhịp, hết vòng đếm lại, và tiếp tục đếm cho đến khi hết tạp niệm, tự nhiên nhập tĩnh.
Thông thường đếm 3 – 5 vòng là vừa, trường hợp bị lẫn số đếm thì có thể lặp lại từ đầu. Nếu sau 3 lượt làm lại tâm vẫn không an, vẫn bị lẫn số đếm thì tạm nghỉ tu thiền và chuyển sang tập động công.
2. Phép tùy tức:
Trên cơ sở của số tức, ta cho ý niệm dựa theo hơi thở mà tiến lui, mà không hao tổn lực. Khi thở ra khí xuống dưới, khi hít vào khí xông lên. Dùng hô hấp thuận hoặc nghịch đều được.
2.1. Hơi thở số 1: Hít vào quán tưởng chân khí tràn ngập châu thân, thở ra quán tưởng toàn thân thư giãn, tự tâm thấy vui vẻ, tự mỉm cười (nghĩ đến 1 câu chuyện hoặc 1 kỷ niệm vui). Khi cảm thấy toàn thân giãn mở, các nét nhăn trên da mặt như không còn thì chuyển pháp.

2.2. Hơi thở số 2: Hít vào quán tưởng chân khí như đi vào cơ thể chậm dần, lắng dịu dần, thở ra quán tưởng tâm buông xả, xa dần thế giới và các vấn đề thực tại hàng ngày. Khi cảm thấy hơi thở đều, nhẹ và không còn vướng trên đường ra/ vào thì chuyển pháp.

2.3. Hơi thở số 3: Hít vào cũng như khi thở ra quán tưởng chân khí như ngày càng đi vào/ đi ra ngày càng nhẹ nhàng, chậm và sâu hơn. Khi cảm thấy hơi thở không còn dài ngắn, sâu nông ... thì chuyển pháp.

2.4. Hơi thở số 4: Hít vào thấy tâm yên tĩnh, thở ra thấy mát toàn thân. Khi cảm thấy toàn thân mát đều, mồ hôi khô dần thì chuyển pháp.

2.5. Hơi thở số 5: Hít vào mà chẳng nhận biết chân khí đi đến đâu (như khí đi vào căn nhà trống), thở ra không nhận biết được chân khí ra thế nào (chân khí như tan vào hư không). Khi không còn phân biệt rõ rệt hơi thở vào hay ra thì chuyển pháp.

2.6. Hơi thở số 6: Không để ý tới việc hít vào và thở ra nữa mà chỉ cảm thấy tâm xác khỏe mạnh, nhẹ nhàng; tâm an lắng và trong sáng.

2.7. Hơi thở số 7: Vẫn biết mình đang hít vào, thở ra nhưng không còn để ý đến việc thở nữa. Lúc này chỉ còn nhận biết thân thể khỏe mạnh, thông suốt/ tâm an lạc, vui vẻ hoàn toàn, không còn vướng bận điều gì nữa. Giữa hơi thở số 6 và số 7 không phân biệt rõ ràng gianh giới hoặc có sự chuyển pháp.

3. Phép chỉ tức:
- Lúc này ý niệm không tiến lui theo tùy tức mà chỉ do đan điền hoặc một phần của cơ thể như ấn đường hoặc đầu mũi, tốt nhất là tại đan điền cho đỡ mất khí lực, hô hấp tựa hồ đã ngừng, sự nhập tĩnh đã ở mức cao hơn.
- Người tập nên đậu tâm ở đầu mũi, tu tập lâu ngày khi hành thiền đến giai đoạn này sẽ chỉ còn thấy khí vào ra qua đầu mũi thoảng vào ra như làn khói mỏng.

4. Phép quán tức:
Từ chỉ tức, trong trạng thái nhập tĩnh cao độ, dùng ý niệm quan sát trạng thái hô hấp của mình (nội thị hô hấp) khi đó thở nhẹ, sâu, như ở đâu đó và phảng phất tựa sợi tơ lơ lửng trong không trung, hiểu thực tế trời đất, người tu luyện thấy hơi thở cùng lông mao trên người phập phồng.

5. Phép hoàn tức:
Từ quán tức lại hoàn khí về đan điền, hô hấp hoàn toàn không do ý thức (thực chất là không còn cảm nhận thấy mình thở nữa), lúc này tâm đã đi vào ranh giới nhập tĩnh cao hơn nữa, đạt được hoàn nguyên. Khi đó ý niệm như có như không, nhưng sự tự chủ lại rất cao.

6. Phép tịnh tức:
Trên cơ sở của hoàn tức, đã đạt tới ranh giới hoàn không, thanh tịnh, sáng suốt, tâm địa thuần tĩnh, ý niệm không tồn tại… Đây là giai đoạn cao nhất của luyện công, tâm như nước trong, hiện rõ, quên cả mình và vật. Trong Lục diệu pháp môn thì “số” với “tùy” là tu hành trước tiên, “chỉ” với “quán” là chánh tu. “Hoàn” và “tịnh” là kết quả của tu hành (giác ngộ, đạt đạo).
Trong Lục diệu pháp môn thì “chỉ tức” là tâm của pháp, “quán tức” để làm cho “chỉ tức” thêm rõ ràng, sáng suốt, để đi tới tâm định kiên cố, thanh tịnh, trong sáng và trí huệ. Ở “hoàn tức” và “tịnh tức”, tức là đã thấy được thân tâm thường trụ của mình.

Lục diệu pháp môn và Thiền định
Viết theo lời giảng và tài liệu của Bác sỹ, Đại sư Nguyễn Văn Thắng

Lục diệu pháp môn và Thiền định
Viết theo lời giảng và tài liệu của Bác sỹ, Đại sư Nguyễn Văn Thắng

Thiền định
Thực chất của thiền định theo tôn chỉ là bất hành văn, bất dụng ngôn, chỉ ấn tâm truyền giáo, giáo ngoại biệt truyền với một vài quyết pháp, để đạt trực chỉ minh tâm, kiến tính như Phật.
Chính lẽ đó càng viết về thiền, càng nói về thiền, càng bàn về thiền thì càng sai biệt, vì thiền là tìm sự giác ngộ (chứng ngộ bên trong bản thể của mình).
Với hiểu biết có hạn, sự chứng ngộ chẳng là bao, chắc chắn bài viết này sẽ còn nhiều thiếu sót. Mong các vị cao minh, thiện tri thức thực sự cảm thông và có những chỉ giáo, để bài viết nhỏ này phần nào đóng góp vào sự phong phú của rừng thiền Việt Nam.
Tôi không dám định nghĩa, mà chỉ nêu khái niệm đơn giản về thiền như sau:
Thiền định: Theo đạo Phật thì Thiền là tịnh (thanh tịnh để tâm được yên lắng), không có tán loạn, chất dứt các vọng tưởng, thoát được mê lầm.
Định: Là suy nghĩ, quán sát đúng đắn, có tác dụng phát ra trí tuệ. Vậy Thiền Định là nhiếp (giới) tâm yên lắng, để suy nghĩ, quán sát đúng đắn, có tác dụng phát sinh ra trí tuệ (giới, định, tuệ).
Thiền là sự buông bỏ trong tỉnh thức, để cơ thể đạt công năng tối đa. Thiền là đưa tinh thần hướng nội để điều phục tâm thông qua nhịp thở. Từ từ buông bỏ những tác động bên ngoài, tiến tới buông bỏ những giao động bên trong để cho ý trống tâm trong (vì thông thường tâm trí chúng ta thường loạn động, từ  “ý biến thì tâm động” nên cổ nhân vẫn thường nói “ý mã, tâm viên” là vậy).
Tóm lại, tu thiền là phải loại bỏ trần cảnh hư vọng, bế nhiếp năm căn và đưa tinh thần hướng nội để điều phục tâm thông qua nhịp thở.
Các bước thực hành Thiền
Các phương pháp thực hành Thiền đều phải qua: Điều thân, điều tức, điều tâm và xả Thiền.
1. Điều Thân: là phải thực hiện tốt các khâu:
1.1. Vị trí ngồi Thiền:
Phải chọn nơi yên tĩnh (đặc biệt trong giai đoạn đầu vì công năng chưa cao). Nơi ngồi phải khô ráo, thoáng mát, tránh nóng và gió lùa.
1.2. Phải tắt đèn để bế thị giác, giảm tiếng động để bế thính giác.
1.3. Thời điểm ngồi Thiền:
Tốt nhất là sau 21 giờ (vì từ đây đến nửa đêm yên tĩnh, khí bẩn đã trầm lắng, khí sạch đang hình thành. Tuy nhiên ngồi thiền vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày đều tốt, nhưng công năng không cao bằng thời điểm trên.)
1.4. Tư thế ngồi Thiền:
Tốt nhất là ngồi kiết già trên Bồ đoàn, hoặc ngồi trên mặt phẳng có lót là được. Khi ngồi thì bắt tréo chân trái lên trước, chân phải lên sau, bàn chân ở giữa vế đùi. Không ngồi được kiết già thì ngồi bán già cũng được (không nên gượng ép, sẽ rất đau chân, nên khó nhập định).
Ngồi quay mặt về hướng Nam hoặc Đông Nam (hỏa – dương lực) để từ trường Bắc – Nam của trái đất phân cực mạnh với điện từ trường trong cơ thể. Để khí hải ở mạch Nhâm trước bụng là bể khí (âm khí – âm lực) sẽ hút dương hỏa ở phương Nam. Và như vậy, mạch Đốc thuộc dương ở phía sau sẽ hướng về phương Bắc. Ngồi thẳng cột sống, cằm hơi thu vào, để Bách hội – Thiên đột – Hội âm thẳng hàng cho khí vận dễ dàng.
Hai tay ôm ấn Kim cương tam muội, nam đặt bàn tay trái ở trên, nữ thì ngược lại. Hai ngón cái chạm nhau. Nách để hở một khoảng. Hai mắt nhắm hờ và nhìn vào đỉnh mũi để tinh thần dễ tập trung (không nên nhắm kín mắt vì dễ động nhãn cầu và gây ảo giác). Hai môi khép lại, hàm răng chạm nhẹ tự nhiên, đầu lưỡi đặt vào chân răng hàm trên. Nét mặt tươi tự nhiên như gương mặt Đức Phật.
2. Điều Tức:
Tập trung tinh thần để kiểm soát hơi thở, loại bỏ dần tạp niệm, cắt dứt dần các tín hiệu bên ngoài, trả lại nhịp thở về với tự tính. Ta phải xa rời ngoại cảnh, bế nhiếp năm căn, xoay tinh thần hướng nội để kiểm soát tâm thông qua nhịp thở. Khi nhịp thở thanh nhẹ ra vào như có như không, thì đó tâm thật sự an tịnh, như rỗng ra và sáng suốt. Khi đó năng lượng sẽ tỏa ra vô cùng và cũng hút vào vô cùng, sẽ kết nối cao nhất với đại tự nhiên, vũ trụ. Đạo dẫn và khai mở các tâm lực trong cơ thể, làm cho năng lượng sinh học của chúng ta được điều chỉnh ở mức phù hợp nhất, sẽ biến đổi chúng ta thành con người mới siêu việt hơn.
3. Điều Tâm:
Đây là khâu quan trọng nhất trong cả quá trình hành Thiền và cũng là đích cuối cùng của tu Thiền.
Khi ngồi Thiền tâm phải thanh thản, không bức xúc, không buồn phiền lo lắng, không suy nghĩ liên miên, tản mạn. Vì mục đích của thiền là hướng nội để điều phục tâm.
4. Xả Thiền.
Trong tất cả các phương pháp tu Thiền đều có xả Thiền, là khâu cuối cùng trong quá trình hành Thiền.
Mục đích của xả Thiền là để cơ thể chuyển dần từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động. Nguyên tắc chung thì trước tiên phải khởi động lại các khớp của cơ thể lần lượt từ trên xuống dưới bằng một số động tác cơ bản.
Tiếp theo xoa bóp toàn thân từ trên xuống dưới. Đặc biệt là vùng mặt, đan điền, mệnh môn và tứ chi. Sau đó đi bộ tại chỗ hoặc tản bộ bên ngoài thiên nhiên càng tốt.
Một số lưu ý khi tu Thiền.
-   Mỗi chúng ta phải mở rộng tâm hồn mình. Vì mở rộng tâm hồn mình sẽ xả bỏ được mọi chất chứa, bức xúc và đón nhận được mọi tinh hoa của cuộc đời. Phải sống tràn đầy tình thương yêu, từ bi, vị tha và vô ngã. Vì  “tình thương là một năng lực vĩ đại nhất để liên kết vũ trụ, liên kết loài người, đó là thông điệp của đất trời”.
-  Chúng ta phải biết ơn tất cả con người, tự nhiên, xã hội. Luôn làm phước và giúp đỡ mọi người. Đây cũng chính là chúng ta đang xây dựng một nền tảng vững chắc để bước vào hành Thiền.
-  Khi có các vấn đề bức xúc, nhức nhối, hay sức khỏe đột ngột sa sút nghiêm trọng, ta nên nghỉ ngơi hoặc bồi dưỡng hay đi dã ngoại kết hợp với thở sâu sẽ tốt hơn. Cơ thể luôn thả lỏng, tinh thần luôn thanh thản thì khí thăng giáng sẽ tốt hơn.
- Về ăn uống sinh hoạt:
+ Khi ngồi Thiền, người sạch sẽ, da thoáng, mặc quần áo rộng và phù hợp với thời tiết.
+ Nên ăn ít đạm, chất béo, chất tanh, đường, sữa. Chỉ nên ăn vừa đủ để hỗ trợ sinh lực khi luyện công. Nên ăn nhiều hoa quả tươi, rau củ tươi giàu chất vi lượng và vitamin. Thêm đỗ, vừng, lạc trong khẩu phần ăn và nên ăn gạo mới.
+ Nên uống nước khoáng hoặc nước lọc đun sôi để nguội. Có thể uống thêm trà xanh hoặc nước vối. Nên hạn chế uống các loại nước có ga hoặc chất màu.
+ Sinh hoạt hợp với tự nhiên và xã hội, vô tư, yêu đời.
+ Về ăn cũng có ba góc độ khác nhau: ăn chay, ăn điều chỉnh chế độ hợp lý và ăn tự do.
-> Ăn chay chỉ nên dành cho những người xuất gia. Còn tại gia thì vẫn còn tính dục, chưa nên ăn chay vì dễ mất năng lượng và loạn động, khó tu Thiền.
-> Tốt nhất là khi tại gia nên điều chỉnh chế độ ăn hợp lý để năng lượng kết nối trên dưới, vừa đảm bảo cuộc sống bình thường, vừa đủ năng lượng thanh nhẹ để tu Thiền.
-> Còn ăn tự do dành cho những người phàm tục, không thể tu Thiền.
Thực tiễn thực hành Thiền ở các nước cũng như ở Việt Nam. Phương pháp Thiền được nhiều Quý Thầy sử dụng và học viên đón nhận vẫn là phương pháp quán tức (tức là dùng ý thức để điều phục tâm thông qua nhịp thở.). Ngay cả Đức Phật Thích – ca – mâu – ni trước khi đắc đạo cũng dùng phương pháp này.
Tuy nhiên phương pháp quán tức cũng có nhiều pháp: như quán niệm hơi thở của Đức Phật Thích – ca – mâu – ni. Chỉ quán thiền môn tứ pháp của Đức Đạt – ma sư tổ. Lục diệu pháp môn của Đại sư Chí Nghĩ thiên đài tông Phật giáo sáng lập. Với khuôn khổ bài viết này, tôi xin giới thiệu phương pháp Thiền theo “Lục diệu pháp môn”.

Lục diệu pháp môn
Là công pháp cơ bản của Phật gia tọa đan. Dựa vào Lục diệu pháp môn của Đại sư Trí Nghĩ: người tu theo công pháp Lục diệu pháp môn chủ yếu căn bản là nội hành, tam thừa đắc đạo kinh Phật. Ngồi trên thảm cỏ dưới bóng cây hay ngồi nơi thoáng mát, nội tư yên tĩnh, một số, hai tùy, ba chỉ, bốn quán, năm hoàn, sáu tịnh. Cứ thế tiến hành chắc sẽ đắc đạo. Công pháp này mang sắc thái Phật giáo tự nhiên, dễ luyện. Cụ thể chia làm sáu bước như sau:
1. Phép số tức:
Sau khi làm tốt công tác chuẩn bị luyện công, hai mắt hơi nhắm, không suy nghĩ lung tung, tập trung ngồi yên tĩnh môt lát, giúp hô hấp bình hòa. Sau đó thở bằng mũi, đầu tiên đếm hơi thở hoặc đếm hít vào hoặc đếm thở ra hay ngược lại. Đếm một vòng là 10 nhịp, hết vòng đếm lại, và tiếp tục đếm cho đến khi hết tạp niệm, tự nhiên nhập tĩnh.
Thông thường đếm 3 – 5 vòng là vừa, trường hợp bị lẫn số đếm thì có thể lặp lại từ đầu. Nếu sau 3 lượt làm lại tâm vẫn không an, vẫn bị lẫn số đếm thì tạm nghỉ tu thiền và chuyển sang tập động công.
2. Phép tùy tức:
Trên cơ sở của số tức, ta cho ý niệm dựa theo hơi thở mà tiến lui, mà không hao tổn lực. Khi thở ra khí xuống dưới, khi hít vào khí xông lên. Dùng hô hấp thuận hoặc nghịch đều được.
2.1. Hơi thở số 1: Hít vào quán tưởng chân khí tràn ngập châu thân, thở ra quán tưởng toàn thân thư giãn, tự tâm thấy vui vẻ, tự mỉm cười (nghĩ đến 1 câu chuyện hoặc 1 kỷ niệm vui). Khi cảm thấy toàn thân giãn mở, các nét nhăn trên da mặt như không còn thì chuyển pháp.

2.2. Hơi thở số 2: Hít vào quán tưởng chân khí như đi vào cơ thể chậm dần, lắng dịu dần, thở ra quán tưởng tâm buông xả, xa dần thế giới và các vấn đề thực tại hàng ngày. Khi cảm thấy hơi thở đều, nhẹ và không còn vướng trên đường ra/ vào thì chuyển pháp.

2.3. Hơi thở số 3: Hít vào cũng như khi thở ra quán tưởng chân khí như ngày càng đi vào/ đi ra ngày càng nhẹ nhàng, chậm và sâu hơn. Khi cảm thấy hơi thở không còn dài ngắn, sâu nông ... thì chuyển pháp.

2.4. Hơi thở số 4: Hít vào thấy tâm yên tĩnh, thở ra thấy mát toàn thân. Khi cảm thấy toàn thân mát đều, mồ hôi khô dần thì chuyển pháp.

2.5. Hơi thở số 5: Hít vào mà chẳng nhận biết chân khí đi đến đâu (như khí đi vào căn nhà trống), thở ra không nhận biết được chân khí ra thế nào (chân khí như tan vào hư không). Khi không còn phân biệt rõ rệt hơi thở vào hay ra thì chuyển pháp.

2.6. Hơi thở số 6: Không để ý tới việc hít vào và thở ra nữa mà chỉ cảm thấy tâm xác khỏe mạnh, nhẹ nhàng; tâm an lắng và trong sáng.

2.7. Hơi thở số 7: Vẫn biết mình đang hít vào, thở ra nhưng không còn để ý đến việc thở nữa. Lúc này chỉ còn nhận biết thân thể khỏe mạnh, thông suốt/ tâm an lạc, vui vẻ hoàn toàn, không còn vướng bận điều gì nữa. Giữa hơi thở số 6 và số 7 không phân biệt rõ ràng gianh giới hoặc có sự chuyển pháp.

3. Phép chỉ tức:
- Lúc này ý niệm không tiến lui theo tùy tức mà chỉ do đan điền hoặc một phần của cơ thể như ấn đường hoặc đầu mũi, tốt nhất là tại đan điền cho đỡ mất khí lực, hô hấp tựa hồ đã ngừng, sự nhập tĩnh đã ở mức cao hơn.
- Người tập nên đậu tâm ở đầu mũi, tu tập lâu ngày khi hành thiền đến giai đoạn này sẽ chỉ còn thấy khí vào ra qua đầu mũi thoảng vào ra như làn khói mỏng.

4. Phép quán tức:
Từ chỉ tức, trong trạng thái nhập tĩnh cao độ, dùng ý niệm quan sát trạng thái hô hấp của mình (nội thị hô hấp) khi đó thở nhẹ, sâu, như ở đâu đó và phảng phất tựa sợi tơ lơ lửng trong không trung, hiểu thực tế trời đất, người tu luyện thấy hơi thở cùng lông mao trên người phập phồng.

5. Phép hoàn tức:
Từ quán tức lại hoàn khí về đan điền, hô hấp hoàn toàn không do ý thức (thực chất là không còn cảm nhận thấy mình thở nữa), lúc này tâm đã đi vào ranh giới nhập tĩnh cao hơn nữa, đạt được hoàn nguyên. Khi đó ý niệm như có như không, nhưng sự tự chủ lại rất cao.

6. Phép tịnh tức:
Trên cơ sở của hoàn tức, đã đạt tới ranh giới hoàn không, thanh tịnh, sáng suốt, tâm địa thuần tĩnh, ý niệm không tồn tại… Đây là giai đoạn cao nhất của luyện công, tâm như nước trong, hiện rõ, quên cả mình và vật. Trong Lục diệu pháp môn thì “số” với “tùy” là tu hành trước tiên, “chỉ” với “quán” là chánh tu. “Hoàn” và “tịnh” là kết quả của tu hành (giác ngộ, đạt đạo).
Trong Lục diệu pháp môn thì “chỉ tức” là tâm của pháp, “quán tức” để làm cho “chỉ tức” thêm rõ ràng, sáng suốt, để đi tới tâm định kiên cố, thanh tịnh, trong sáng và trí huệ. Ở “hoàn tức” và “tịnh tức”, tức là đã thấy được thân tâm thường trụ của mình.

Các bậc của thiền.
1. Sự chứng ngộ:
Khi quyết tâm cố gắng, tâm Thiền định, một ngày nào đó chúng ta sẽ ngạc nhiên, nơi chính mình phát ra hào quang (obhasa). Lúc đó, chúng ta cảm thấy một cảm giác dâng trào, thỏa thích, an tịnh và vắng lặng. Tâm như rỗng ra và trong sáng, sức tự chủ cao. Từ đó, chúng ta càng quyết tâm tu tập để củng cố tâm tịnh. Đạo tâm tăng trưởng, trí huệ sáng suốt và suy niệm rõ ràng hơn. Nhưng đừng lầm đó là đã đắc đạo quả Thánh, nhất là thấy có hào quang, nếu chúng ta để tâm ưa thích trạng thái tinh thần đó. Như vậy sẽ trở ngại cho tiến bộ tinh thần và đạo đức. Nên chúng ta không được gia tâm truy cầu mà phải tri kiến trong sạch, gom tâm quán tưởng để tìm ra con đường chân chính.
Theo Phật giáo, những người đã đắc ngũ Thiền mới có thể phát triển được các loại năng lực thần thông, đó là:
1.1. Thiên nhãn (hay còn gọi là huệ nhãn): Dibbacakkhu.
Thấy được những cảnh trời hay cảnh người, vượt thời gian vô tận, không gian bao la.
1.2. Tri kiến: Catupapa tanana.
Có liên quan đến cái chết và xuất hiện trở lại của chúng sinh, cũng đồng nghĩa với thiên nhãn hoặc nhãn thông, có liên quan đến tương lai xa gần.
1.3. Thiên nhĩ: Dibbasota.
Còn gọi là nhĩ thông hay huệ nhĩ, là khả năng nghe được những âm thanh vi tế hay thô kệch, xa hay gần.
1.4. Luân hồi kiếp: Pubbnenivasanussatinana.
Là khả năng hồi nhớ các tiền kiếp của mình và người khác. Về điểm này, năng lực của Đức Phật là không có giới hạn. Phật có thể nhớ vô lượng kiếp.
1.5. Tha tâm thông: Paracittavifanana.
Là năng lực đọc được tư tưởng, ý nghĩ, tâm trạng của người khác.
1.6. Biến hóa: Iddhividlia.
Là những năng lực như bay trên không, đi trên mặt nước, chui dưới đất, tạo thành những hình thể mới.

2. Các bậc thiền cụ thể
2.1. Sơ thiền:
Loại bỏ trần cảnh và giữ thân, khẩu, ý luôn thanh tịnh, làm tâm an, vui vẻ trong yên lặng, trí thêm sáng suốt. Nhưng trong thâm sâu vẫn còn những tự hào bí mật.
2.2. Nhị Thiền:
Sự thanh tịnh viên mãn, định tâm kiên cố, trí tuệ sáng suốt tỏ rõ. Tiến lên định lực ngày càng tăng, trí sáng ngày càng phát triển, tự tại vô cùng, thấy khắp pháp giới đều trong sáng, thanh tịnh. Có thể dùng hòa quan, trí sáng để làm phương tiện giáo hóa, tu hành thanh tịnh, cùng khắp. Có một số thần thông. Các bậc nhị Thiền thoát ly được các ưu thụ, nên tâm thanh tịnh, thoát được các lầm lạc thô thiển. (Không được lầm là đắc Thánh quả)
2.3. Tam Thiền:
Rời bỏ được hỷ thụ, tinh tấn tu hành, được cái vui nhẹ nhàng yên lắng. Định lực càng cao, sự thanh tịnh không có bờ bến, thân tâm được cái vui khinh an vô lượng, khí trong và ngoài đều yên lắng, dồn về cái vui khinh an cùng khắp, chứng ngộ được khắp pháp giới tính và tỏng tâm đã hiện rõ ngoài cảnh giới hiện hữu, còn có các cảnh giới siêu nhiên khác, như: địa ngục, ngạ quỷ hay các cảnh trời, chư thiên, phạm thiên. Tức là đã vào được vùng vô thức bí mật, mà lâu nay chỉ nghe qua kinh sách hoặc huyền thoại, mà nay được chứng ngộ trong tâm.
Tóm lại tam Thiền bỏ được cái hỉ thụ ở nhị Thiền, được cái vui khinh an vô lượng, nên thân tâm cảnh giới hết thẩy đều thanh tịnh.
2.4. Tứ Thiền:
Các vị tứ Thiền nhận thấy cái vui khinh an không phải là thường trụ, tu tập chính quán, rời bỏ cái vui và cái khổ, trong tâm chỉ có xả thụ, nên càng được thanh tịnh, thì được bản tính không có vui khổ, cùng tột vị lai của cõi mình, đắc A-la-hán, đầy đủ tam minh, lục thông.

3. Ý nghĩ và công năng của thiền
3.1.   Thiền sẽ làm cho công năng bên ngoài (thể vật lý) và công năng bên trong (thể năng lượng) được cân bằng. Bên ngoài thì cân cơ xương giãn mở, bên trong thì nội dịch được điều chỉnh. Các bệnh cân cơ xương, rối loạn tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, nội tiết, cao huyết áp, đái đường… dễ hồi phục. Thiền là cho tinh thần được nghỉ ngơi, căng thẳng tan biến, tránh được hội chứng Stress, suy nhược, thêm phúc lạc, trẻ trung, yêu đời, ăn ngủ tốt.
3.2.   Thiền làm cho tâm hồn rộng mở, khoáng đạt, hệ thần kinh trung ương đạt công năng cao nhất. Sau khi Thiền sẽ trả lại tầm nhìn, ta sẽ thông minh hơn, có cái nhìn khoa học và minh triết hơn. Trong Phật học nói rằng: “Nhân định sinh tuệ” là vậy. Vì vậy các vị lãnh tụ, các nhà khoa học giỏi thường có công năng của Thiền (mặc dù họ không tập Thiền nhưng họ có khả năng thiền định do lòng say mê nghề nghiệp ở mức cao độ, liên tục tạo ra).
3.3.   Tất cả các phương pháp Thiền đều hướng về bản thể để hòa hợp tự tính, đó là sự: “Rỗng lặng, thanh tịnh, trong sáng và xuyên suốt”. Khi vào định, chúng ta thấy xúc cảm tròa dâng rất thật, tập Thiền sẽ biến phàm ra Thánh. Khi chứng ngộ một lần, chúng ta sẽ trở thành con người mới siêu việt hơn, từ đó ta sẽ có cảm ứng tự chủ và tự tại. Khi đó già yếu, bệnh tật và cái chết không còn chi phối. Ý chí, niềm tin và bản lĩnh của chúng ta sẽ mạnh lên.
3.4.   Thiền là làm cho ta trở thành cái toàn thể, thấy lại tính linh của mình, thành nguồn năng lượng không cạn kiệt.
3.5.   Thiền là trở về cái bản thể của ta, với “trung tâm” của mình, cái toàn diện, toàn thể, toàn mỹ về tâm linh. Lúc đó sẽ không còn chỗ cho mê tín dị đoan xân lấn, ta sẽ thấy được thực tướng của vạn pháp.
3.6.   Thiền là cách đưa chúng ta trở về cội nguồn của cuộc sống. Cội nguồn của Thiền là vốn có trong ta, một năng lượng vô tận.
3.7.   Thiền sẽ làm cho mỗi chúng ta tươi trẻ, sống động và yêu đời.
3.8.   Ta tìm Thiền trong ta, để thấy Thiền trong thiên hạ.
3.9.   Ta thấy được tâm ta, là thấy được tâm thiên hạ, thấy được vũ trụ vô biên.
3.10.  Ta đến được bản thể của ta là đến được pháp giới bao la.

4. Một vài chứng minh khoa học để thêm sáng tỏ về Thiền
4.1. Cấu trúc giải phẫu cơ bản của não:
-          Có vỏ não, chất xám và chất trắng.
-          Có não trái não phải.
-          Có cầu não, các thùy não, hành não.
-          Các buồng não (khoang não thất).
-          Có nhiều lớp tế bào thần kinh và hệ thống noron thần kinh cao cấp, với đa chức năng.
-          Não được nối với tủy sống (hệ thống não tủy).
-          Hệ thống não tủy và hệ thống thần kinh trung ương quyết định toàn bộ tư duy, ý thức của con người, các trạng thái tâm lý, cảm xúc và điều chỉnh, kiểm soát toàn bộ hệ thống thần kinh thực vật của cân, cơ, xương và lục phủ ngũ tạng.
4.2. Não bộ của con người được chia làm hai bán cầu não.
-          Bán cầu não trái có chức năng hướng con người đến danh vọng, tiền bạc, làm cho con người có xu hướng phàm tục, sa đọa. Bán cầu não phải có xu hướng thánh thiện, thích tâm linh, bản thể bên trong của mình, làm cho con người tinh tấn và hòa mình với tự nhiên, xã hội. Chính chức năng của 2 bán cầu não như vậy nên con người luôn có bản ngã, nửa hướng thiện, nửa bất thiện; xã hội vật chất càng phát triển lại càng làm cho chúng ta luôn có xu hướng chìm đắm vô minh.
-          Việc ngồi Thiền sẽ làm cho bán cầu não trái yên lắng, sự đối nghịch bị xóa bỏ, làm cho 2 bán cầu của não trở nên hợp nhất, từ đó sẽ phát huy tính năng tối đa, làm cho não chúng ta khỏe lên và thông minh hơn.
4.3.   Thùy trán của não thể hiện sự sáng suốt của con người, hòa đồng với sự sáng suốt của càn khôn vũ trụ. Khi vào định thì thùy trán sẽ được kiểm soát, từ đó sẽ kiểm soát được thùy chẩm phía sau (thường sinh vọng tưởng), từ đó sẽ kiểm soát và nhận thức toàn thân.
4.4.   Khi hành Thiền, ta đã nhiếp tâm vào định, thì lớp võ não được ngưng lại, năng lượng tiếp tục thẩm thấu sâu vào bên trong, làm cho lớp não sâu hơn được kích hoạt, sống dậy. Do đó bộ não chúng ta sẽ mạnh lên, sự nhận biết từ đó sẽ sáng suốt hơn, tinh tế hơn, phát huy thêm tiềm năng của bộ não chúng ta. Chính vì vậy, Đức Phật, các vị Bồ tát và A-la-hán luôn ở trong định, nên sức tự chủ vô cùng, sáng suất vô cùng (vô lượng thọ, vô lượng quang).

Xin kết thúc bằng vài vần thơ:
Câu 1:
“Trôi lặn bể khổ bao giờ tỉnh
Sóng lòng yên tịnh, rõ đáy sâu
Mau mau phản tỉnh, hồi quang lại
Phật giác ngay đây khỏi kiếp sau”.
Câu 2:
“Chư hạnh vô thường
Thị sinh diệt pháp
Sinh diệt diệt dĩ
Tịnh diệt vi nạp”
Câu 3:
“Sa bà duyên nghiệp sinh thành
Trăm năm trụ thế tu hành không ngơi
Sắc thân tuy đã hoại rồi
Chân không ta sẽ phản hồi chân không”.

Thứ Hai, 22 tháng 11, 2021

Kim cương khí công

KIM CƯƠNG KHÍ CÔNG 

I. Khai mở lục căn:


1. Nhãn


1.1. Liếc trái, phải: Dang hai tay sang hai bên, thẳng như cái đòn gánh, các ngón tay nắm lại, ngón trỏ duỗi ra, hơi cong lên để mắt liếc qua trái, qua phải có thể nhìn thấy ngón trỏ. Liếc 18 lần (mỗi bên 9 lần)


1.2. Nhìn trên, ngó dưới: Hai tay đưa về phía trước, một tay ngang đỉnh đầu, một tay ngang đan điền. Nhìn lên, nhìn xuống đều thấy ngón trỏ. Lặp lại 9 lần rồi đổi tay, lặp lại 9 lần (tổng 18 lần).


1.3. Quay tròn: Quay tròn mắt từ trái qua phải 9 lần, sau đó lặp lại; trong khi quay, mắt vẫn nhìn sang trái, phải, trên, dưới.


1.4. Xoa hai bàn tay vào nhau cho nóng rồi úp vào 2 mắt, khi nguội đi (đếm từ 1 – 6) thì day theo chiều mọc của lông mày (mắt trái ngược, mắt phải thuận chiều chiều kim đồng hồ). Tiếp tục xoa 2 lòng bàn tay thật nóng và lặp lại 3 - 6 lần.



2. Nhĩ


2.1. Lắng nghe tiếng mưa gió: Ốp lòng 2 bàn tay vào hai tai, mũi bàn tay ôm lấy gáy rồi mở ra, đóng vào thật nhanh/ nhẹ nhàng; khi đó ta nghe thấy tiếng mưa, gió. Lặp lại 36 lần.


2.2. Lắng nghe tiếng trống trận: Vẫn tư thế của động tác 2.1. nhưng dùng hai ngón tay giữa và ngón tay trỏ gõ vào phía sau gáy; khi đó ta nghe thấy tiếng trống trận rất hùng tráng và cảm thấy khoan khoái. Lặp lại 36 lần.


2.3. Ép màng nhĩ: Vẫn tư thể của động tác 2.1. nhưng dùng hai lòng bàn tay ép vào hai tai tạo áp suất nén lên màng nhĩ rồi đột ngột mở ra. Ép vừa thấy hơi tức hoặc đau màng nhĩ rồi mở ngay ra.


2.4. Xoa tai: Xoa 2 lòng bàn tay cho nóng rồi xoa hai vành tai, xoa theo chiều từ dưới lên, từ trên xuống (thuận theo chiều của vành tai) 6 lần. Tiếp tục xoa nóng tay và lặp lại 6 lần.


2.5. Vuốt tai: Dùng khe của ngón trỏ và ngón giữa để vuốt tai từ trên xuống dưới. Vuốt 18 lần.


2.6. Kéo tai: Dùng ngón cái và ngón trỏ túm các điểm trên vành tai kéo dãn ra, bắt đầu từ trên rồi xuống dưới. Lặp lại 6 lần.



3. Tỵ


3.1. Hít vào hết cỡ, dùng 2 ngón tay cái và trỏ bịt hai lỗ mũi lại, thở ra thật mạnh (có một ít khí sẽ thoát ra qua hai lỗ tai), đếm từ 1 – 18 hoẵ 36 thì bỏ tay ra để thở. Lặp lại 3 – 6 lần.


3.2. Thở bằng 1 lỗ mũi: Dùng ngón tay bịt 1 lỗi mũi lại, chỉ thở bằng 1 lỗ; hít vào và thở ra hết sức, thật mạnh và đều. Hít vào, thở ra 6 lần rồi chuyển sang lỗ mũi còn lại. Lặp lại 3 lần.


3.3. Bấm và day huyệt nghinh hương: Bấm và day huyệt nghinh hương trên và dưới 6 lần. Lặp lại 3 lần. Huyệt nghinh hương nằm ở phía trên và dưới cánh mũi (điểm khởi đầu và kết thúc của cánh mũi).


3.4. Vuốt mũi: Xoa ngón cái và phần bụng/ cơ phía dưới của ngón cái cho nóng lên rồi áp bụng ngón cái, ngón cái lại vuốt mũi. Khớp ngón tay của ngón cái đặt ở ấn đường, bụng ngón cái đặt ở hai bên sống mũi; ấn 2 khớp ngón tay vào huyệt ấn đường, khi thấy hơi đau thì vuốt xuống; vuốt 6 lần, xoa tay và vuốt tiếp. Lặp lại 3 lần.



4. Khẩu


4.1. Gõ: Gõ hai hàm răng vào nhau 36 lần.


4.2. Nhai: Nhai hàm trái 6 lần, chuyển sang nhai hàm phải 6 lần. Lặp lại 3 lần.


4.3. Nghiến: Nghiến hai hàm răng với nhau 6 – 9 lần.


4.4. Ngáp: Giống như ngáp tự nhiên nhưng là mình tự điều khiển. Khi thở ra thì thở bằng miệng, hóp bụng, bóp đan điền để hà hết khí độc trong người ra. Lặp lại 6 lần; động tác này lặp lại lâu ngày sẽ làm cho hơi thở và miệng lưỡi sẽ thơm tho, dễ chịu.


4.5. Luyện ngọc dịch: Quay tròn lưỡi trong miệng 6 lần, ngược lại 6 lần; tiếp đó quay tròn lưỡi phía ngoài răng (vẫn mím môi) 6 lần, ngược lại 6 lần; tiếp theo quay tròn lưỡi liếm hai môi 6 lần, ngược lại 6 lần. Trong quá trình đảo lưỡi, liếm môi nước miếng sẽ túa ra rất nhiều, không nuốt/ giữ hết lại trong miệng, khi kết thúc động tác liếm môi thì súc miệng 36 lần, lúc này nước miếng đã chuyển thành ngọc dịch (rất quý). Gom và luyện lại trong miệng, tưởng tượng như một cục nước hình cầu, chia ra làm 3 phần để nuốt dần xuống. Khi nuốt thì tưởng tượng ngọc dịch tan chảy, chuyển đến toàn thân chứ không phải đơn thuần là nuốt xuống bụng. Lặp lại 3 lần.



5. Thân


5.1. Làm động tác giống như cung thủ đương hung trong bài dịch cân tẩy tủy kinh, sau khi án khí thì đan hai tay vào nhau úp trước ngực, mở dãn ra phía trước hết cỡ đồng thời xoay lòng hai bàn tay ra phía trước rồi thu về. Khi nâng tay lên thì hít vào thật sâu (như ôm cả trời đất), dãn tay thì thở ra hết cỡ (thót bụng và đan điền). Lặp lại 6 lần. Tiếp theo làm 12 lần động tác đan tay, đưa vào đưa ra (đưa vào lòng 2 bàn tay úp vào ngực, đưa ra lòng 2 bàn tay hướng ra ngoài).


5.2. Làm động tác trên nhưng theo chiều thẳng đứng, hai lòng ban tay đan chép úp lên đỉnh đầu. Khi giãn tay nhớ giãn mở toàn thân.


5.3. Ngửa cổ lên, dùng lòng bàn tay vuốt từ trên xuống dưới, hai tay thay phiên nhau 18 lần (mỗi tay vuốt 9 lần).


5.3. Dùng lòng bàn tay vuốt phần cổ phía sau, vuốt từ sau ra trước; mỗi tay một bên. Vuốt 9 lần/ bên.


5.4. Xoa mặt: Chà xát 2 lòng bàn tay cho nóng, đặt lên vùng da mặt cần xoa khoảng 2 giây rồi vuốt/ xoa theo chiều lên/ xuống, phải/ trái, hoặc xoa vòng tròn (các phần mặt có da), chà xát tay và lặp lại 6 lần, lần sau ngược chiều với lần trước.


5.5. Xoa ngực: Tay nào xoa ngực bên đó. Thuận chiều 9 lần, ngược chiều 9 lần.


5.6. Xoa bụng: Xoa toàn bộ phần bụng, tay trái xoa theo chiều từ trái, từ dưới lên trên; tay phải theo chiều ngược lại. Mỗi tay xoa 9 lần.


5.7. Xoa đầu gối và bấm huyệt túc tam lý: Chà xát 2 lòng bàn tay cho nóng và xoa đầu gối (xương bán chè). 6 vòng xuôi, 6 vòng ngược; lặp lại 3 lần. Bấm và day huyệt túc tam lý 6 lần, lặp lại 3 lần. Huyệt túc tam lý nằm ở đầu ngón tay đeo nhẫn nếu đặt lòng bàn tay vào xương bánh chè, đầu các ngón tay mở ra, cách nhau 2,5cm (ngón tay giữa thẳng với xương sống của ống chân).



6. Thần


6.1. Vỗ: Dùng 4 ngón tay (trừ ngón cái) vỗ nhẹ từ ấn đường tới bách hội và đến đỉnh đầu, mỗi vùng 6 lần; chuyển tay khác và cũng vỗ mỗi vùng 6 lần.


6.2. Mổ: 6.3: Dùng năm đầu ngón tay mổ xuống đầu như kiểu gà mổ thóc, mổ khắp đỉnh đầu (phần có tóc). Đếm đủ 36 lần.


6.3. Chải: Dùng các ngón tay chải tóc từ phía trước ra phía sau, từ giữa sang hai bên (rồi làm lại từ giữa sang hai bên). Làm 36 lần.




II. Tập trung tinh thần và khai mở thân pháp


1. Tập trung tinh thần:


1.1. Nhiếp thị: Dùng 2 ngón trỏ nhấn chủm tai (phần nhô ra, đối diện vành tai) bịt lấy lỗ tai, ngón giữa ấn vào huyệt thái dương, ngón trỏ ấn vào xương ngọc chẩm; nhắm hờ mắt, hướng tâm mình vào trong, cảm thấy tinh thần tĩnh lặng, thân thể trống rỗng, lâng lâng.


1.2. Ngưng thần: Mắt nhìn vào ngọn nến, một vật tĩnh trước mặt, hoặc ảnh chân dung của Đức Phật; nhìn thẳng và chăm chú, mắt không chớp và tinh thần không lay động, niệm 3 lần “Nam mô a di đà phật”, sau đó từ từ nhắm mắt lại, vẫn lưu giữ hình ảnh vừa nhìn, niệm 3 lần “Nam mô a di đà phật”, tiếp tục từ từ mở mắt nhìn. Lặp lại 9 lần.



2. Khai mở thân pháp:


2.1. Thái dương công:


- Hai tay đưa lên đỉnh đầu, các ngón tay chụm lại, ngón cái khép lại, lòng bàn tay hướng lên trên, giữa hai tay để 1 khe mở xuống huyệt bách hội. Lúc này huyệt bách hội và huyệt lao cung ở 2 lòng bàn tay đều hướng lên trên để thu nhận thiên khí.


- Trong quá trình thở hai tay sẽ mở dần ra theo nhịp hút đẩy tự nhiên của khí (cần tác động thêm của cơ lực). Khi hai tay dang thẳng ra là kết thúc phần thái dương công và chuyển sang thái âm công.


- Hơi thở số 7: Hít vào quán tưởng thu nhận khí từ bách hội thẳng xuống xương cùng, thở ra thu nhận khí vào từ các lỗ chân lông của toàn thân.



2.2. Thái âm công:


- Thời điểm hai cánh tay song song với mặt đất, lòng bàn tay hướng xuống dưới là bắt đầu quá trình thái âm công cho đến khi hai bàn tay gần chạm nhau phần dưới hông, lòng bàn hướng ra ngoài, để khe mở cho phần xương cụt tương tự như với huyệt bách hội để tà khí (tử khí) thoát ra ngoài.


- Hơi thở số 7: Hít vào quán tưởng thu nhận khí từ bách hội thẳng xuống xương cùng, thở ra thu nhận khí vào từ các lỗ chân lông của toàn thân.


Thái dương và thái âm công có tác dụng mở 2 mạch nhâm, đốc (trước, sau cơ thể) và bách hội. Toàn thân thông suốt. Nhịp thở êm sâu, đều.


2.3. Quy nạp đan điền:


Sau khi thực hiện xong thái âm công, tiếp theo là phép quy nạp đan điền. Mục đích là quy tụ năng lượng sạch về vùng bể khí (đan điền) trước khi chuyển đến các cùng khác của cơ thể.


Hai tay chấp trước ngực theo thế “Phật tử khai tâm”. Tinh thần từ từ chuyển về đan điền và trú tại đó, điều hòa nhịp thở đón nhận chính khí quy tụ. Khi ổn định hơi thở, khí và thần đã tập trung tại đan điền thì hai tay từ từ mở ra theo nhịp hút đẩy tự nhiên của khí (cần tác động thêm của cơ lực). Mở dần ra theo hình trái tim ngược, điểm kết thúc là hai bàn tay kết ấn, đặt phía trên bàn chân. Nếu ngồi theo kiểu kiết già thì nam đặt tay trái lên trên, nữ đặt tay phải lên trên, nếu ngồi theo kiểu bán già thì đặt tay trên dưới tương ứng với chân. Sau khi kết ấn, quán tưởng chính (sinh) khí từ đan điền lan tỏa toàn thân.



III. Kim cương công


1. Thu khí, tán khí:


Hai tay vòng từ trái qua phải 9 vòng (nữ ngược lại). Lặp lại 5 lần (nữ 4 lần). Xong 1 lần thứ nhất thì tay phải bấm và day huyệt hợp cốc tay trái (bấm 3 giây, day 6 lần), lần thứ hai tay trái lại bấm và day huyệt hợp cốc của tay phải (nữ thì ngược lại).


2. Bồi hoàn nguyên khí:


2.1. Đảo lưỡi: Đảo lưỡi 6 vòng bên trong răng, 6 vòng ngược lại; tiếp tục đảo lưỡi 6 vòng bên ngoài răng và ngược lại. Mục đích luyện lưỡi và làm cho tiết nước bọt.


2.2. Súc miệng: Súc miệng bằng nước bọt(giống như ngậm nước súc miệng). Mục đích luyện nước bọt thành ngọc dịch. Súc miệng 36 lần.


2.3. Choẹt miêng: Hóp má, phùng má; hóp môi, phùng môi. Mục đích luyện nước bọt thành ngọc dịch, kích thích tiết thêm nước bọt. Choẹt miệng 36 lần.


2.4. Nuốt ngọc dịch: Khi nuốt khí quán tưởng ngọc dịch từ miệng trôi dần qua cổ họng và sau đó lan tỏa toàn thân.


Lặp lại các bước từ 2.1 – 2.4 từ 3 đến 9 lần (tùy thời gian và bệnh tật). Nếu có các bệnh về răng, miệng, tiêu hóa, hôi miệng, đau khớp thì làm từ 6 – 9 lần.


3. Xích long hấp thủy:


Hay tay nắm lại, tay trái đặt ở huyệt bách hội, tay phải đặt ở ½ đùi, chuyển tay đấm nhẹ vào huyệt bách hội và đồng thời vào đùi (nữ ngược lại). Lặp lại các động tác đấm vào huyệt bách hội và đùi 36, 64, hoặc 72 lần.


Phép này nén khí từ bách hội xuống đan điền, đồng thời đẩy tà khí qua hai nách. Quán tưởng sinh khí từ vũ trụ (mới) đi vào và nén xuống đan điền khi hít vào, khí dư/ tạp khí thoát từ đan điền qua hai nách khi thở ra.



IV. Cửu thủ nhuyễn công (các động tác thật mềm dẻo, nhuyễn và uyển chuyển – toàn thân chuyển động theo các động tác như con rắn, nhưng sóng xô)



1. Phật tử khai tâm


1.1. Hai tay giơ về phía trước, song song với nhau lòng bàn tay úp, khoát tay từ trong ra ngoài 36 lần, khoát tay theo chiều ngược lại 36 lần. Cả người uốn chuyển theo chiều khoát tay như con rắn trườn. Hơi thở tự nhiên.


1.2. Hai tay giơ sang hai bên, lòng ban tay ngửa lên, trang tay từ ngoài vào trong 36 lần, làm ngược lại 36 lần. Cả người uốn chuyển theo chiều trang tay như con rắn. Hơi thở tự nhiên.


1.3. Hai tay hoành lên trên, chụm vào nhau như động tác lạy Phật, thả hai tay xuống rồi lại hoành lên, chụm lại và thả xuống; khi hai tay hoành lên thì rướn người, khi thả xuống thì chùng gối. Làm 72 lần, hơi thở tự nhiên.


Động tác này là để khởi động chân khí.


2. Âm dương chuyển cầu


Tưởng tượng hai tay ôm bóng (mua quả bóng gỗ hoặc nhựa thì càng tốt), xoay vần quả bóng từ trên xuống, từ dưới lên, từ trái qua phải, từ phải qua trái (6 vòng đổi 1 lần); đồng thời với việc tay xoay  bóng thì hướng người và chân cũng chuyển từ trái qua phải, từ phải qua trái (lưu ý động tác chuyển của chân, gối và bàn chân phải nhịp nhàng, lên xuống giống như động tác chuyển hướng và chuyển chân của thái cực quyền). Quay trái, phải ít nhất 6 lần.


Động tác này nhằm dẫn luồng chân khí xoay chuyển trong toàn thân.



3. Thu phong, trụ vũ


Hoành hai tay lên như động tác ôm gốc cây to, hạ hai tay xuống, lòng bàn tay ngửa, thu về hai bên hông, rồi lại tiếp tục lặp lại 36 lần. Khi hoành tay lên thì hít vào, hạ tay xuống thì thở ra, chân và gối phối hợp để nâng người lên và hạ người xuống, người nhấp nhô như làn sóng.


Động tác này thu phong (khí) về đan điền.



4. Đảo phong


Hai tay đưa từ dưới lên rồi hạ từ trên xuống theo chiều ngược nhau, mũi bàn tay hướng lên trên, hai tay xoay quấn lấy nhau như hai con rồng vờn nhau, tạo ra luồng khí xoắn từ dưới lên (giống như tạo vòi rồng), thân và chân cũng chuyển từ trái qua phải, từ phải qua trái như động tác âm dương chuyển cầu. Quay trái, phải ít nhất 6 lần, hơi thở tự nhiên.


Động tác này nhằm tạo luồng khí xoắn trong cơ thể cuốn hết tà khí ra ngoài theo các huyệt bách hội, và thiếu phủ.



 5. Vũ thủy hoành sơn


Hai tay xoay tròn từ trong ra ngoài, lòng bàn tay hướng vào trong tạo ra luồng khí (sóng) xô vào thân (vách núi). Quay trái, phải, lên cao, xuống thấp (tưởng tượng tạo ra các con sóng xô vào thân núi). Quay trái, phải ít nhất 6 lần, hơi thở tự nhiên.



6. Du thủy


Sau khi tạo ra sóng thì chèo thuyền lướt trên sóng (hai tay làm giống động tác chèo thuyền trên sông) Hai tay đưa lên cao về phía bên phải, lòng bàn tay úp xuống, toàn thân và mắt hướng theo tay, tiếp đó xoay người qua bên trái để quay ra phía sau, hai tay hạ xuống như mái chèo khoát nước đẩy thuyền đi. Người lên xuống nhẹ nhàng. Làm ít nhất 6 lần rồi chuyển sang bên trái.



7. Tiên cô chải tóc


Hai tay làm giống động tác đảo phong nhưng khác ở chỗ là sau khi đưa tay lên trên thì vòng lại sau gáy giống như động tác thanh long thám trảo của dịch cân tẩy tủy kinh (động tác giống như người đang soi gương, vuốt và chải tóc). Luân chuyển tay, đồng thời xoay chuyển toàn thân qua trái, qua phải. Lặp lại ít nhất 12 lần.



8. Song thủ thác bàn (hai bàn tay luân chuyển như cái mặt bàn)


Đặt 2 đồng xu hoặc 2 cái đĩa lên lòng bàn tay (lòng bàn tay hướng lên trên), tay trước quá đầu, mũi tay hướng về trước, tay sau đặt ngang hông, mũi tay hướng về sau. Tay phải xoay theo chiều kim đồng hồ đưa về hông phải, tay trái xoay ngược chiều kim đồng hồ đưa lên quá đầu (sao cho lòng bàn tay vẫn song song với mặt đất, đồng xu hoặc cái đĩa không bị rơi). Luân chuyển ít nhất 12 lần (6 lần/ bên).



9. Âm dương vận thủ (Âm dương pháp chưởng)


Hai tay luân phiên nhau đẩy chưởng ra phía trước (trên dưới, cao thấp, trái phải), thân quay trái/ phải và uốn lượn lên/ xuống như các chiêu thức từ 2 – 6.



10. Điều chuyển, thu khí và điều hòa trước khi kết thúc


10.1. Điều chuyển khí:


- Điều ngang:


+ Thu khí: Hai tay ôm bóng (ước đường kính 20 cm), tay ôm phải trái. Cảm giác có lực hút và đẩy giữa hai bàn tay (tương tự như thái dương và thái âm công). Nhẩm số lần hút đẩy tối thiểu giữa hai bàn tay là 36 lần.


+ Chuyển khí: Hai bàn tay vặn quả bóng theo chiều ngược nhau để điều chuyển khí trong thân, tưởng tượng khí trong đan điền cũng chuyển theo chiều vặn nhau. Vặn đi, vặn lại 36 lần.


+ Điều khí: Tách bàn tay ra xa từ 20 – 50 cm (vẫn ôm cầu, tưởng tượng quả cầu nở to ra), đưa bàn tay lại vị trí cũ (ôm cầu, cách nhau 20 cm). Tách ra thì thở, thu vào thì hít; hít vào đứng thẳng, thở ra chùng gối). Tối thiểu 18 lần, tiếp tục mở rộng quả cầu lên gấp đôi (từ 20 – 100 cm) và lặp lại 18 lần.


- Điều dọc:


Tương tự  như điều ngang nhưng hai tay ôm bóng trên và dưới (tay phải đặt trên).



10.2. Thu khí:


- Chắp tay:


+ Chắp hai tay trước ngực, mũi bàn tay hướng lên trên (tưởng tượng hai bàn tay hút và dính chặt vào nhau). Đếm 12 lần nhịp đập của mạch máu hoặc nhịp đập của tim.


+ Vẫn chắp tay trước ngực và nâng lên quá đầu và đếm đủ 12 lần như trên.


- Nắm tay: Nắm hai tay lại, bắt chéo.


+ Trên đầu: Đưa lên trên đầu và đếm đủ 12 lần như trên.


+ Trước ngực: Hạ xuống ngực, đếm đủ 12 lần.


+ Trước bụng: Hạ tiếp xuống một chút, trước rốn 3cm, vẫn đếm đủ 12 lần.


+ Dưới rốn: Hạ tiếp xuống dưới rốn 3 cm, vẫn đếm đủ 12 lần mạch đập.


10.3. Điều hòa:


- Tay:

+ Nặng: Dang hai cánh tay sang hai bên, bàn tay nắm lại, đưa quá lên đỉnh đầu rồi hạ xuống hai bên hông. Đếm đủ ít nhất 12 lần.

+ Nhẹ: Hai tay để xuôi, thả lỏng, vẩy nhẹ tay (cánh tay, bàn tay, ngón tay) 12 lần (giống động tác rung kình trong dịch cân tẩy tủy kinh).

- Chân

+ Nặng: Nghiêng người đứng bằng 1 chân, chân kia nhấc lên (giống kiểu chó đái), làm 3 lần mỗi bên; tiếp theo nhảy lên, nhảy xuống nhẹ nhàng/ nhịp nhàng 12 lần (toàn thân thả lỏng)

+ Nhẹ: Chạy bước nhỏ tại chỗ 24 bước, chạy như mây bay/ gió thoảng, mũi chân gần như không nâng khỏi mặt đất, thân mình nhún nhẩy, nhấp nhô như sóng lượn.

* 🧘‍♂️🧘🧘‍♀️

- Cửu thủ nhuyễn công làm cho kinh mạch vận hành, khí huyết lưu thông khắp châu thân. Căn cơ, xương giãn mở, tinh thần sáng suốt, bền vững.

- Động tác mềm mại, uyển chuyển, nhuần nhuyễn và liên tục. Nhịp thở tự nhiên. Tinh thần lắng đọng ở các động tác. Cửu thủ nhuyễn công làm cho cơ thể hoạt động đồng bộ, làm cho nhịp điệu sinh học của cơ thể hòa hợp với chu chuyển và biến đổi của vũ trụ (thiên địa nhân hợp nhất).

- Các mục từ I – III tập buổi sáng, trước khi bước chân xuống đất (ngồi kiết già trên giường, mặt hướng về phía đông). Cố gắng tập nhịn tiêu, tiểu.

- Mục IV tập sau khi bước xuống đất, vệ sinh cá nhân xong (uống 1 cốc nước nhỏ ~ 20 – 30ml ngay sau khi bước xuống giường).

- Tư thế ngồi: Bán già hoặc kiết già, mặt nhìn về hướng mặt trời, nếu trong khoảng 11 – 13h thì nhìn về hướng Nam, trong khoảng từ 23 – 01h thì nhìn về hướng Bắc.

- Tư thế đứng: Hai chân rộng bằng vai hoặc hai vai, tùy theo từng động tác; hai bàn chân song song, mũi chân hơi hướng vào nhau.

- Lặp lại các động tác: Tùy theo thời gian và nhu cầu chữa bệnh của từng người mà các động tác có thể lặp lại 3, 6, 9, 12 … lần.

_______________

Đăng 9th September 2013 bởi Thích Đủ Thứ

Thứ Hai, 8 tháng 11, 2021

KHAI MỞ LỤC CĂN

KHAI MỞ LỤC CĂN

 

(Nằm trong bộ “Kim Cương Khí Công” của thầy Nguyễn Văn Thắng, chưởng môn phái Thăng Long Võ Đạo). Trên tinh thần thượng võ của thầy, luôn tìm cách giúp đỡ người, đưa sở học ra bên ngoài cho người dân được học, được khỏe mạnh, an lạc. Tôi xin góp phần bằng bài viết nhỏ bé này.*

 

Lục Căn là gì? à Căn là chỗ nương tựa, làm gốc cho những cái khác nảy nở, tạo thành.  Lục Căn thì gồm có: Nhãn là mắt dùng để nhìn, Nhĩ là tai dùng để nghe, Tỷ là mũi dùng để ngửi, Thiệt là lưỡi dùng để nếm, Thân là da dùng để nhận biết những cảm giác, Ý là tư tưởng dùng để phân biệt.

Tính thấy tạo ra nhãn căn(mắt).

Tính nghe tạo ra nhĩ căn(tai).

Tính ngửi tạo ra tỷ căn(mũi).

Tính nếm tạo ra thiệt căn(lưỡi).

Tính sờ mó tiếp xúc tạo ra thân căn(thân thể), thân thể có nhiều cơ quan nội tạng giúp cơ thể hoạt động và tăng trưởng theo một chương trình thông tin di truyền chứa trong nhân tế bào gọi là nhiễm sắc thể (DNA DeoxyriboNucleic Acid).

Tính biết tạo ra ý căn(não bộ), là trung tâm tổng hợp và điều khiển mọi hoạt động của cơ thể và từ đó có khả năng suy nghĩ trừu tượng nhờ vào khả năng ghi nhớ của các tế bào thần kinh.

 

Sự giao tiếp giữa lục căn(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, não) và lục trần(sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) phát sinh lục thức(thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc giác, ý thức). Nghĩa là mắt thấy được hình ảnh nào, mũi ngửi được mùi thơm nào đó, lưỡi nếm được chất chua, cay hay ngọt, tai nghe được điệu nhạc êm đềm, thân thì cảm thấy đau đớn, hay lạnh lẽo, còn ý thì bắt đầu suy nghĩ, thì ký ức của chúng ta phát sinh ra sự phân biệt. Và chính sự phân biệt, hiểu biết và phán đoán này được gọi là Thức.

 

Bài tập này(Nằm trong bộ “Kim Cương Khí Công”) nhằm mục đích duy trì sự hoạt động tốt, liên tục của các bộ phận đó(đối với những người còn tốt) và phục hồi chức năng đối với những người đã suy giảm.

***

Tập lúc nào cũng được, nhưng tốt nhất là vào buổi sáng 5-7 giờ. Có thể tập nhiều lần trong ngày. Có thể tách riêng từng phần để tập cũng được. Ngồi kiết già hoặc bán kiết già. Kê một cái gối hoặc đệm khoảng 5cm vào mông, chỗ để chân không kê(giúp thẳng cột sống). (Có hình minh họa)

 

Tinh thần thư thái, hơi thở nhẹ nhàng. Trừ động tác nhìn xa còn lại đều ngồi yên, đầu, lưng thẳng. Các động tác xoa nhớ làm nóng bàn tay hoặc ngón tay(dùng để xoa) trước khi xoa(bằng cách xát hai bàn tay với nhau) để làm phát sinh tĩnh điện. Đối với vùng mặt không nên xoa quá mạnh, chỉ nên xoa nhẹ mà vừa phải, chủ yếu sử dụng tĩnh điện và ý niệm để xoa. Khi day ấn huyệt nhớ tìm đúng vị trí, ấn vào đến khi đau, tức mới day, 5-7 lần thì nới nhẹ tay ra và làm lại.

 

I. Nhãn(mắt) và thần:

1. Nhìn:

- Liếc ngang: Liếc hết cỡ sang trái rồi sang phải (khoảng)18 lần.

- Liếc dọc: Liếc hết cỡ lên trên rồi xuống dưới 18 lần.

- Đảo nhãn cầu: Đảo tròn nhãn cầu(nhìn) theo chiều kim đồng hồ nhiều vòng rồi đảo theo chiều ngược lại.

- Nhìn xa: Quan sát toàn cảnh không gian trời đất với sự rộng mở và thanh bình, với tâm không suy nghĩ, nhìn ra các mục tiêu thấy được ở tầm xa, di chuyển liên tục các mục tiêu khác nhau nhưng không chăm chú vào vật nào cả.

- Nhìn gần: Nắm một bàn tay, chỉ để ngón trỏ thẳng(như khi chỉ tay) cách huyệt Ấn đường(Gần chỗ giao nhau của hai lông mày) khoảng 20-30 cm. Hít sâu và đưa dần ngón tay vào gần chạm Ấn đường. Thở ra thì tay đưa xa ra vị trí cũ, rồi lại hít vào… Làm (khoảng)18-36 lần. Mắt luôn nhìn chăm chú vào đầu ngón trỏ. Ta sẽ cẩm thấy Ấn đường hơi căng, tức, đầu ngón tay hơi căng, tê.

2. Nhiếp thị, ngưng thần:

Nhắm mắt lại, dùng ngón cái 2 bàn tay bịt chặt màng nhĩ, ngón giữa ấn vào huyệt Thái dương dưới cung thùy trán(chỗ giao nhau của chân mày và đuôi mắt) và ngón trỏ ấn vào xương Ngọc chẩm(hai ụ xương phía sau gáy), hướng tâm mình vào trong. Đây là cách nhìn nội thể – tức là nhìn và nghe bên trong bản thể của mình. Ta sẽ cảm nhận sự rỗng lặng trong cơ thể mình, một cảm giác sảng khoái, lâng lâng.

3. Tập trung tinh thần:

Có thể nhìn một vật tĩnh hay một vật động như bức ảnh, chậu cảnh, tượng Phật… một cách chăm chú, xuyên suốt, không lay động trong chính niệm (suy nghĩ). Khi nhắm mắt lại, ta quán tưởng hình ảnh ta nhìn thấy lúc trước vẫn hiện hữu trong não. Thực hiện 9 lần trở lên.

4. Xoa mắt: Đặt hai ngón cái ở gò má làm điểm tựa, hai ngón trỏ đặt chụm lại ở hai chân mày trên(gần huyệt Ấn đường) vuốt vòng quanh mắt(trên lông mày một chút) xuống dưới mí dưới, gần đủ một vòng, đến sống mũi thì vuột ngược trở lại Ấn đường(vị trí ban đầu của hai ngón tay). Vuốt nhiều lần sẽ giúp mắt thư thái trở lại sau các bài tập và bớt các nếp nhăn quanh mắt.

 

II. Nhĩ(tai):

1. Xoa vành tai: Dùng hai lòng bàn tay xoa hai vành tai ngược xuôi nhiều lần cho nóng bừng hai vành tai.

2. Bập bùng màng nhĩ: Dùng hai lòng bàn tay bịt thật chặt lỗ tai rồi mở ra xong lại tiếp tục đè vào. Làm nhiều lần, mục đích là làm rung động màng nhĩ, tăng tính đàn hồi, nhạy cảm hơn.

 

3. Đánh trống đầu: Dùng hai lòng bàn tay bịt thật chặt lỗ tai rồi dùng 8 ngón tay gõ liên hồi vào xương Ngọc chẫm(chỗ lồi sau đầu). Sẽ nghe như tiếng trống, rất to.

4. Ấn, xoa vành tai trước và sau: Ấn, day phía trước lỗ tai từ trên xuống dái tai rồi dùng hai ngón cái vuốt dọc từ trên xuống qua các điểm vừa day nhiều lần. Dùng hai ngón trỏ vuốt vành tai sau(khe giữa tai và xương đầu) từ sau ra trước và ngược lại nhiều lần. (Có hình minh họa).

 

III. Tỷ(mũi): Rất tốt cho những người bị bệnh về mũi như viêm mũi, viêm xoang.

1. Hít thở: Dùng ngón cái bịt một lỗ mũi và hít thở mạnh bằng lỗ mũi còn lại nhiều lần, hít vào thật căng bụng, thở ra thật hết hơi, tóp bụng.

2. Day cánh mũi: Dùng hai ngón tay cái đè, day hai cánh mũi nhiều lần.

3. Vuốt sống mũi: Xát mạnh hai mu ngón cái cho thật nóng, kẹp sống mũi vào giữa hai ngón cái rồi vuốt xuống đến khi hai đầu ngón cái đến huyệt Nhân Trung(rãnh giữa mũi và mồm), làm 3 lần thì xoa tay lại cho nóng rồi vuốt tiếp. Vuốt nhiều lần.

Vuốt xuống khi ngón tay cái đến huyệt Nhân Trung thì ngừng

4. Ấn huyệt Nghinh Hương trên dưới: Là chỗ kết thúc cánh mũi phía trên và chỗ kết thúc cánh mũi phía dưới. Dùng hai ngón trỏ ấn vào đến khi thấy đau, tức mới day, 5-7 lần thì nhấc ra và làm lại. Làm nhiều lần.

 

IV. Thiệt(lưỡi) và khẩu(miệng):

1. Gõ: Gõ đều, mạnh hai hàm răng với nhau phát ra tiếng lớn. Làm nhiều lần.

2. Nhai: Nhai như nhai kẹo cao su nhiều lần.

3. Nghiến: Cắn chặt hai hàm răng với nhau, nghiến qua nghiến lại(không để răng trượt lên nhau, không phát ra tiếng) để lay động chân răng.

4. Ngáp: Ngồi thật thẳng lưng, cổ, đầu. Ngáp như thường vẫn ngáp nhưng cố gắng thật sâu, hít thật nhiều khí vào bụng, miệng mở thật to, rướn người lên, kéo giãn xương sống, xương cổ theo phương lên trên. Rồi từ từ thở ra và ngậm miệng, buông lỏng, chùng người xuống. Làm ít nhất 6 lần.

 

V. Thân:

Ngồi thẳng lưng, cổ, đầu như lúc đầu.

Đan hai bàn tay vào với nhau, úp vào ngực, hít sâu. Thở ra, đẩy thẳng hai bàn tay ra phía trước(tay song song với mặt đất), xoay hai lòng bàn tay hướng ra ngoài, thở hết, thót bụng, cố gắng vươn tay ra hết cỡ, kéo giãn xương cốt. Hít vào thì thu tay về trước ngực như ban đầu, hai bàn tay từ đầu đến cuối vẫn đan vào nhau. Làm nhiều lần.

 

VI. Ý:

1. Vỗ: Dùng bốn ngón tay vỗ các vị trí lần lượt từ Thượng đình, Trung đình, Hạ đình, Gian đình, Hậu đình(Từ 1-5 như trong hình vẽ). Mỗi nơi vỗ ít nhất 36 lần.

Vỗ đều, dọc từ trước ra sau và ngược lại nhiều lần.

2. Mổ: Dùng 10 ngón tay mổ kín, đều khắp đầu.

3. Giác: Dùng 10 ngón tay chải tóc từ trước ra sau, từ trên đỉnh đầu rồi di chuyển hai tay dần xuống hai tai. Luôn chải từ trước ra sau.

4. Xoa: Rất quan trọng, tốt cho cả da mặt, mớt mụn nhọt, hồng hào, căng.

Xát mạnh hai bàn tay cho nóng rồi úp lên mặt khoảng 2-3 giây rồi vuốt lên trên đỉnh đầu vuốt vòng ra sau, vòng về hai bên quai hàm 3 lần thì xát lại cho tay nóng rồi úp lên 2-3 giây và vuốt tiếp. Làm nhiều lần.

 

Hà nội, ngày 22 tháng 02 năm 2013 - Phạm Phú Quảng

https://phamphuquang.com/2013/02/22/khai-mo-luc-can/ 

Thứ Ba, 17 tháng 8, 2021

EN - TÀI LIỆU HỌC TA HỌC SINH CẤP 2

 SÁCH VỞ VÀ TÀI LIỆU HỌC TIẾNG ANH CHO HỌC SINH CẤP 2

Chào các mẹ, sau khi bạn lớn siêu nghịch ngợm và ko bao giờ chịu học hành gì nghiêm túc nhà mình thi được IELTS 7,0 đợt vừa rồi, và 1 cô học trò của mình thi đặt mức IELTS 7,5, cả hai bạn này đều thi và đạt kết quả này ở năm lớp 9 thì rất nhiều mẹ hỏi mình tài liệu sách vở và lộ trình để con có thể học được như thế. Mình tranh thủ hôm nay rảnh nên chia sẻ lại nhé.
1. TRÌNH ĐỘ ĐẦU VÀO
Đây là một yêu cầu quan trọng. Và thường đầu vào của con là B1, hoặc gần B1 thì mới nên cho con học theo bước này. Bởi vì nếu trình độ thấp hơn, con học sẽ bị đuối. Mỗi một tài liệu được thiết kế phù hợp với trình độ hiện thời của con. Lộ trình học tập và sách vở để học bao giờ cũng sẽ thay đổi theo trình độ của con để thiết kế.
Nếu muốn biết là con đang ở trình độ nào, rất đơn giản, bố mẹ chỉ cần đưa con đi kiểm tra đầu vào ở những trung tâm uy tín là họ sẽ cho ra kết quả của con. Và có thể cho test đề PET, tương đương B1 trên trang web sau
Còn làm thế nào để con từ con số 0, không biết tý gì tiếng Anh mà học lên đến B1 thì các PHHS đọc lại bài viết của mình về lộ trình cho con tiểu học.
2. LỘ TRÌNH VÀ TÀI LIỆU
2.1. Giai đoạn 2-3 năm xây nền và chuẩn bị cho kỳ thi.
Với giai đoạn tiểu học, PHHS đã phải giúp con thấy tự tin khi nói tiếng Anh, yêu thích tiếng Anh rồi. Thì đến giai đoạn này các con cần tập trung học nâng cao ở tất cả các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và có thể nghe giảng 100% bằng tiếng Anh.
- Bộ sách ngữ pháp và từ vựng B1 và B2 : Destination B1+ B2 của MXB Macmillan
- Sách luyện viết Great writing quyển 2 tương đương B1, quyển 3 tương B2, quyển 4 tương đương C1.
- Làm quen với phần đọc ở bộ complete ielts 4-5
Ngoài ra mình đặt biệt luyện nghe tăng cường cho con, mỗi ngày 1 đoạn nghe tin tức BBC hoặc CNN. Mình hay sử dụng kênh BBC learning English để cho con luyện nghe
- Cô này mình cũng thích vô cùng: https://www.youtube.com/watch?v=NSppwImoW6w
- Các bài Ted talk này mình cũng thích và hay cho con nghe: https://www.youtube.com/watch?v=RKK7wGAYP6k
- Nghe lần 1: nghe hiểu nội dung
- Nghe lần 2: Nghe và chép lại bằng tiếng Anh (chép 5p thôi, ko cần chép hết cả bài đâu)
- Nghe lần 3: Nghe là nói theo.
- NGoài ra mình cho con dùng thêm Elsa speaking để luyện phát âm mỗi ngày 10-15p, phần luyện chung các âm và luyện theo topic
Ngoài ra nên chọn các bộ phim cho con xem và ko nhìn phụ đề, con mình xem phim tầm tuổi con, 1 tuần 1 phim và cải thiện phần nghe – nói nhiều lắm
2.2. Giai đoạn làm quen với dạng đề
Lúc đầu mình nghĩ đi học IELTS đắt lắm, số tiền rất nhiều và hiếm có bạn điều kiện kinh tế hạn hẹp mà có thể học. Nhưng hóa ra chỉ cần các con có sự tự giác thì các khóa học online ghi hình sẵn rất sẵn trên mạng, rẻ thì 600k (cô Hằng Mun bán trên Edumall) mà đắt thì 5tr của thầy Ngọc Bách, bán kèm phần chữa speaking và writing luôn.
AI chê thầy Bách ko có chứng chỉ, chưa từng thi IELTS thế nào thì mình ko biết nhưng tài liệu thầy xây dựng khá chuẩn, và thầy chấm bài viết rất sát với điểm thi viết của con. Thầy thường chấm bài của con mình ở mức 6-6,5 thì đúng là lúc thi điểm Viết của con chỉ ở khoảng 6,0.
Trang của edumall với chi phí chỉ tầm 300k đến 990k/ 1 khóa.
Khóa luyện nghe BBC này tăng khả năng nghe rất hiệu quả
Khóa luyện chính thức đề ở đây:
Trang của thầy Bách bán online ở đây: https://khoahocielts.ngocbach.vn/
Giáo viên của trường mình cũng đã luyện bằng tài liệu của thầy Bách và đạt 8,0 IELTS, còn con trai mình thì 7,0 nhờ những tài liệu này đấy.
- Thường học kỳ 2 lớp 8 thì mình sẽ có thể cho con bước vào học dạng đề, với Bộ Complete IELTS 5-6,5. Mỗi ngày con nên học tầm 30-45P cho việc luyện thi, cứ làm theo các hướng dẫn dạng bài trong sách là được. Mỗi ngày nên tập trung vào 1 kỹ năng như Thứ 2 luyện nghe, thứ 3 luyện đọc, thứ 4 luyện viết, thứ 5 luyện nói, thứ 7 và Cn luyện 2 kỹ năng IELTS như nghe - đọc, Nói - Viết tầm 60-90p
- NGoài ra mình cho con dùng thêm Elsa speaking để luyện phát âm mỗi ngày 10-15p, phần beat IELTS 6,0 và 7,0
Thường tầm này giáo viên cũng sẽ hướng dẫn các con và giao nhiệm vụ nghe, đọc, nói, viết để con hoàn thành. Có thể đăng ký học thầy cô nào gần nhà cũng được, nên nghe ngóng nhiều phụ huynh có con học giáo viên và thường thường nên ưu tiên các lớp 8-10 hs thôi, đừng chọn các lớp tới 20- 100 học sinh, nói thật là trình độ còn thấp thì ko nên luyện lớp đông học sinh.
2.3. Giai đoạn tập trung ôn thi nước rút
- Tầm đầu lớp 9, con có 4-5 tháng để ôn nước rút cho việc luyện thi, mỗi tuần con cần giành 2-3 buổi làm đề nghe, đọc theo bộ đề IETLS Cambrigde từ quyển 5-14. Đề nghe lên you tube tìm dạng đề được nâng cấp tốc độ lên nhanh 1.5 lần.
- Mỗi tuần nên thuê 1 giáo viên Philip 1 tuần 1 buổi, mỗi buổi 1h để rèn kỹ năng nói cho con. Như mình thì tìm qua trung tâm nào cũng cung cấp dịch vụ này, và chi phí là 300k/1 giờ. Giáo viên Philipin luyện thi IELTS rất bài bản.
- Đồng thời Mỗi tuần con nên viết 1 bài viết và gửi cho giáo viên chấm. Các bạn cứ lên các nhóm FB như: Tự học IELTS 8,0, rồi ới lên là cần dịch vụ chấm bài viết là sẽ có người giúp ngay.
- Tầm 1 tháng trước khi thi là con phải tập trung cao độ, mỗi ngày con đều làm 1 đề nghe – đọc theo bộ đề thật được sưu tầm, mình mua gói của thầy Bách nên thầy gửi đề thật để luyện thi, nếu có điều kiện thì tập trung mỗi tuần 2 buổi để con ôn nói với giáo viên. Gần như tháng cuối mình cho con viết ít vì viết ko cải thiện nhanh được trong 1 tháng, kết quả của phần luyện viết thể hiện ở quá trình trước đó rồi.
- Vai trò của cha mẹ trong giai đoạn này là động viên, chăm sóc cho con ăn uống, hàng ngày giao đề cho con làm và kiểm tra. Đề đều có key hết nên bố mẹ đều kiểm tra được. Kiểm tra lại các câu sai xem sau khi xem đáp án bạn có biết vì sao sai và cách sửa về đúng như thế nào ko? Vài trò này rất là dễ và ai cũng làm được, ko cần bố mẹ biết tiếng Anh đâu. Nhớ kiểm soát giờ làm đề của con nghe cho ngắn lại 30p còn 25p, đọc 60p cho về 50p, giới hạn thời gian để con phải quen hơn với thời gian gấp rút.
- Vì con mới lớp 9 nên nội lực chưa thể như anh chị cấp 3 hay đại học nên vai trò đồng hành, động viên của PHHS với con là rất quan trọng. Thậm chí Hà nhà mình trên lớp 9 mình xin cô giáo tiếng Anh trong học kỳ 1 ko cần cho con làm bài về nhà vì thực tế tiếng Anh của con ko kém, để ôn thi lên cấp 3 chỉ cần học 6 tháng cuối là con thi được thôi.
Mình định bụng là tháng 3 thi xong thì con dốc toàn lực để ôn thi lên cấp 3 nhưng ko ngờ nhờ kết quả thi IELTS cao mà con nhà mình đang học trường tư và cũng được lên thẳng trường tư của con vào lớp chọn anh vì con có IELTS. Nên nhà mình lựa chọn luôn là con lên thẳng cấp 3 trường của con mà ko ôn thi cấp 3 nữa, rút ngắn thời gian học tập cho con.
Thực tế, nếu gia đình nào muốn con tập trung ôn thi lớp 9 lên 10 thì lớp 10, 11 cho ôn thi IELTS cũng được, tầm đó con cũng chín chắn hơn nên bài viết và nói có thể có kết quả cao hơn, cũng ko bị áp lực thi cử chuyển cấp nên đỡ vất vả. Nhà mình vì có một số kế hoạch riêng chủ yếu liên quan tới định hướng nghề nghiệp ở cấp 3 và sẽ ko có thời gian cho con học tiếng Anh nữa nên mới muốn cho con thi ở giai đoạn trước khi lên lớp 10.
Chúc các bố mẹ thêm kinh nghiệm để biết cách đồng hành với con luyện IELTS nhé.
Lien eth Nguyen.

Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021

Literature. C.H.Lĩnh

 CÂU CHUYỆN NƯỚC MỸ – GỬI MỘT EM BÉ Ở HÀ NỘI

Bài này thực ra là một e-mail tôi gửi cho một cô bé ở Hà nội tôi quen qua Internet khi tôi đang ở Berlin, Germany, nhưng chưa bao giờ gặp mặt. E-mail này tôi viết khi vừa đặt chân lên xứ Mỹ mới được gần ba tháng, nên có một số điều còn thiếu. Có một số vấn đề bây giờ đã trở nên lạc hậu, thiếu chính xác, vì từ đó đến nay đã có bao nhiêu nước chảy qua cầu … tôi đã từng ngang dọc khắp các nẻo đường nước Mỹ, cả miền Ðông lẫn miền Tây, có điều gần đây tôi bận quá, nên không có thời gian viết lách gì cả. Ngôn từ trong bài viết không được trau chuốt lắm, có đôi phần kiêu căng, tự mãn, mong quý độc giả lượng thứ.  (Châu Hồng Lĩnh)

Em bé,

Em hỏi anh về chuyện nước Mỹ, về việc em nghe Lê Lựu và mấy thằng giẻ rách khác kể chuyện nước Mỹ. Em ạ, anh phải nói thật với em rằng, em đừng nghe mấy thằng tự mệnh danh là nhà văn ngu dốt đó, cả đời đẽo bút ở nhà, sang Mỹ một vài tháng tích cóp được mấy đồng, không dám đi đâu, toàn kể chuyện láo toét. Từ từ anh sẽ kể chuyện thật nước Mỹ cho em nghe.

Dạo này em thế nào rồi, thi đại học có kết quả gì chưa ? Em còn thích đi làm nhà báo không?

Anh thì nói ra lại thấy xấu hổ, đi tu không trót đời, máu giang hồ lại nổi lên, thế là anh vọt qua Mỹ. Hồi mới qua Mỹ, anh ở Boston, bang Massachusetts, nơi có đại học Harvard và MIT. Sau đó anh thấy làm công tác nghiên cứu cũng chẳng ăn giải gì, nên bỏ đi làm software engineer. Hiện giờ anh đang ở thành phố New Britain, Connecticut. Mặc dù không còn làm cho tập đoàn DaimlerChrysler nữa, nhưng trung thành với truyền thống của tập đoàn, nên ở Ðức anh đi xe Mercedes, còn ở Mỹ anh đi xe Chrysler.

Từ ngày sang đây, anh đã lái xe đi hơn 15000 km (mười lăm ngàn) ngang dọc khắp 6 bang của nước Mỹ là Massachusetts (MA), Connecticut (CT), Rhodes Island (RI), New York (NY) và New Jersey (NJ), New Hampshier (NH), đã kịp xơi một vé phạt của cảnhg quen thì xe từ đằng sau chạy lại nó đâm cho tan xác. Trên highway thì lane trong cùng bên phải là chậm nhất, càng ra ngoài thì càng nhanh, thế mà có nhiều nơi nó làm LEFT EXIT, nghĩa là bắt người ta ra khỏi highway ở lane chạy nhanh nhất, thật là ngu nhất thiên hạ. Anh lái xe đi khắp châu Âu cũng chưa thấy chỗ nào quái đản như thế. Thậm chí ở New Haven có chỗ highway một bên có 3 lane thì nó làm 2 exit hai bên, chắc là để cho bệnh viện có thêm việc làm. Biển chỉ đường trên highway nó cũng làm nhà quê cực, ngay ở chỗ rẽ nó mới đặt biển, mà nhiều khi đặt ngay góc khuất, chả thấy biển đâu. Trên highway xe cộ nó phóng trăm mấy một giờ, đến chỗ rẽ mới thấy biển thì bố ai mà rẽ kịp, ai không biết đường là ngọng ngay. Trên highway ở châu Âu, cách chỗ rẽ 2km là nó đã đặt biển, sau đó cứ 200 m lại có một biển báo khoảng cách còn bao xa thì đến chỗ rẽ, thế thì người ta mới biết được chứ. Cũng may là anh quen với việc vừa lái xe vừa xem bản đồ rồi, không thì chết toi.

Cảnh sát ỡ Mỹ cũng nhà quê, muốn bắt xe phóng quá tốc độ, thì cảnh sát phải lái xe lên highway đi tuần, rồi bắt được thì phải viết vé phạt. Xe cảnh sát thì có gắn radar, vì thế sau này anh mua một cái radar detector gắn vào ô tô, thế là trong vòng bán kính mấy dặm có xe cảnh sát là anh biết ngay. Ở Ðức, trong những khu vực có giới hạn tốc độ, nó đặt camera, mình chạy quá tốc độ là nó chụp ảnh, truyền thẳng vào hệ thống máy tính trung tâm của cảnh sát, cuối tháng nó gửi vé phạt về, tài khoản ngân hàng của mình tự động sụt đi một khoản, chứ không như bọn Mỹ nhà quê này, đến tiền phạt cũng phải đi gửi bưu điện.

Lễ hội văn hóa ở đây thì hầu như không có gì. Quanh quanh khu vực New England, thậm chí kể cả ở New York city anh chả tìm thấy cái discotheque nào cho ra hồn người, nói tóm lại là thua xa châu Âu, thậm chí thua cả châu Á.

Nói về vui chơi giải trí thì phải công nhận nước Mỹ là nước nhà quê thứ nhì thế giới. Nhưng cảnh thiên nhiên ở đây rất đẹp. Vì địa lý nước Mỹ lớn, nên thiên nhiên của nó rất phong phú. Anh đã đi khắp các bãi biển dọc bờ Ðại Tây dương của bang Massachusetts, Rhodes Island và Connecticut. ở đây có những nơi nghỉ mát giống như bờ biển Ðịa Trung Hải miền nam nước Pháp, cũng có những nơi như biển Bantic phía bắc Balan, cũng có những sa mạc cát như ở Phan Thiết, Việt nam, có những vách đá đổ xuống sát bờ biển, trông rất hùng vĩ. Anh đã đến Cape Cod, thành phố nghỉ mát ở mũi đất bán đảo cực Nam MA, nơi tập trung các chiến thuyền cướp biển thời thế kỷ 17, 18. Anh đã có mặt ở trạm Marconi, là điểm gần bờ biển châu Âu nhất của nước Mỹ, nơi Marconi đã đánh đi bức điện tín xuyên đại dương đầu tiên của nước Mỹ chquy ước của xã hội loài người. Em cứ hình dung là thả một con khỉ vào trong xe ô tô như thế nào, thì một thằng đen ở New York giống y như thế, có khi còn tệ hơn. Chúng nó phóng xe lên vỉa hè, vượt đèn đỏ, đi vào đường cấm, đâm ra lung tung tứ phía từ khắp các hang cùng ngõ hẻm, bấm còi vô tội vạ, trêu cả cảnh sát. Thế mới bảo tại sao thỉnh thoảng có vụ cảnh sát khừ bọn đen. Trong đường phố thì chúng nó túm năm tụm ba, gõ xô gõ chậu nhảy nhót lung tung. Thật là một lũ khốn nạn. Theo anh cảnh sát New York như thế là còn hiền quá. Bọn trắng ở Chinatown và ở Bronx thì cũng chả hơn gì bọn đen ở Connecticut, mặc dù hồi anh mới xuống Connecticut, anh đã tưởng bọn đen ở đây là vô lại nhất thiên hạ rồi. Ðến sáng chủ nhật anh mới phóng xe về lại CT, dọc đường buồn ngủ quá, phải ra khỏi highway, chui xuống gầm cầu ngủ một tiếng. Ðến tận thứ ba mà cậu bạn đi cùng anh trong chuyến vừa rồi vẫn chưa lại người, mặc dù cậu ta không phải lái xe.

Sắp tới anh có kế hoạch làm một cú đi sâu hơn vào nội địa nước Mỹ, đến thác Niagara (thác nước lớn nhất thế giới), và đi tới Atlanta (Gorgia) thăm nhà của Scarlett O’Hara, nhưng phải chờ tìm thêm một tay lái nữa, thay nhau chạy cho nó đỡ mệt. Anh cũng đặt vé máy bay qua Las Vegas rồi, chắc cuối tháng này hoặc đầu tháng tới anh sẽ qua đó để kiếm chác một ít, gọi là bổ sung thu nhập. Trong thời gian vô công rồi nghề, chơi bời hư hỏng, anh có phát triển được một thuật toán khá hay ho để chơi với máy đánh bạc, dùng thử ở nhiều nơi thấy cũng khá tốt, nên anh muốn mang qua đó kiểm chứng xem sao. Nếu tiếp tục phát huy tốt, khéo anh bỏ quách nghề lập trình viên, chuyển qua Vegas hành nghề đánh bạc.

Công việc của anh dạo này như phò. Lúc đầu anh nghe nói viết chương trình tự động hóa hệ thống thanh toán tiền bảo hiểm cho cả nước Mỹ, nghe cũng oai oai. Bây giờ anh mới phát hiện ra cái công ty 3M phò này làm dự án cho chính phủ Mỹ, ai tuyển người vào thì sẽ được tiền cò $500, nên bọn nhân sự dắt díu cha con anh em họ hàng chúng nó vào, toàn đứa ngu như bò, thậm chí so sánh con bò với chúng nó thì con bò phải đỏ sừng vì nhục. Bọn nó 6 người làm ba tuần không bằng anh làm một tuần, làm mình đâm ra lười biếng. Hơn nữa cái dự án anh đang làm được thiết kế như khỉ, do thằng phụ trách kỹ thuật người Mỹ chả hiểu học ở cái trường đại học nào ra mà ngu kinh khủng khiếp, nghĩa là không có từ nào trong bất kỳ thứ tiếng nào trên thế giới có thể diễn tả được cái ngu của nó, do đó cái dự án này đang trên đà sụp đổ rồi. Ðem kể về thiết kế của dự án này cho thằng lập trình viên ngu nhất của Việt nam thì nó cũng cười vỡ bụng. Thế nhưng cha con chúng nó đứa nào cũng hớn ha hớn hở, cười nói vô tư, thỉnh thoảng còn nghỉ việc đi đánh golf. Lúc c;n Cali, xem tìm được việc gì là anh trốn luôn. Thực ra thì mình cũng chả muốn trốn khỏi TNC sớm như thế, mà định để đi làm cho đến hết hạn rồi hãy chuyển cho nó đàng hoàng, nhưng hoàn cảnh xô đẩy đến nước này thì đành phải tép thôi. Cũng tại nó không kiếm được cho mình cái dự án tử tế. Có gì anh sẽ thông báo tình hình sau.

Trên đây là một số chuyện ngắn gọn về hoạt động của anh kể từ hồi đặt chân sang quê hương của chủ nghĩa Ðế quốc. Ðể hôm nào anh đi Cali và Nevada về, anh sẽ kể tiếp cho em nghe về phong cảnh và con người ở hai đầu miền Ðông và miền Tây nước Mỹ. Còn em thì sao, ở nhà có gì vui không ? Hè này em có đi đâu chơi không? Hẹn gặp em ở thư sau nhé. Chúc em một ngày vui vẻ.


Quả đấm miền sơn cước

Chương 1

Một buổi chiều cuối đông khoảng cuối thập niên 80 của thế kỷ 20, trên dãy Hoàng Liên Sơn, trong ánh nắng chiều vàng nhạt, một gã thanh niên vóc người tầm thước, trạc 18, 19 tuổi, quần dõng, áo ga, chân đi giày vải, loay hoay chỉnh chỉnh, ngắm ngắm với một chiếc máy ảnh Praktica bên sườn đồi. Đối tượng trước ống kính của gã là một tốp khoảng chục người đàn ông đủ mọi lứa tuổi đang xoay trần cặm cụi đào bới trong một hố đất sâu cách đó vài ba chục mét, hì hục đổ từng xẻng đất vào một cái máng gỗ có nước chảy qua bên dòng suối. Họ là những kẻ đào vàng.

Một thanh niên trong đám đào vàng ngừng tay, ngẩng đầu lên quệt mồ hôi trán. Bỗng hắn nhận thấy có kẻ đang chĩa ống kính máy ảnh về phía mình, liền hét lớn "Đ.m., có đứa chụp ảnh." Cả đám đào vàng ngừng phắt công việc, sững lại một giây nhìn kẻ quấy rối, rồi những tiếng hô hào, chửi bới đua nhau vang lên:"Thằng này khéo là nhà báo", "Có khi nó chụp về báo cớm cũng nên", "Đánh bỏ me nó đi anh em ơi", "Đánh", "Giết" ... Tiếp ngay sau những tiếng thét, đám đào vàng ào ào nhảy lên khỏi hố, cuốc xẻng lăm lăm, xông thẳng về phía gã thanh niên cầm máy ảnh.

Gã thanh niên bừng tỉnh khỏi cơn mê nhiếp ảnh, đảo mắt nhìn quanh. Sườn đồi hoang vắng với mấy bụi cây lưa thưa, địa hình trống trải kéo dài hàng km, không biết khả năng chạy nhảy của đối phương ra sao, nếu bỏ chạy thì trước sau gì cũng bị chúng bắt kịp. Lúc đó đã mệt thì chắc chắn là ốm đòn, có khi bỏ mạng. Âu là hãy chiến đấu khi còn sung sức. Đút vội chiếc máy ảnh vào chiếc túi vải nhỏ đeo bên hông, gã thanh niên quay đầu rảo bước, tay xua xua vẻ sợ hãi "Em không làm gì. Các anh cho em xin".

Đây là một chiến thuật mà người chiến binh lừng lẫy trong lịch sử Nhật bản Miyamoto Musashi đã áp dụng hơn 300 năm trước, trong một trận chiến một chọi tám mươi mốt kẻ thù. Trong tai gã thanh niên còn văng vẳng lời dặn dò của sư phụ, vốn là một giáo viên võ thuật của Cục Cảnh vệ K10 (*) : "Trong một trận đấu với nhiều địch thủ, nếu không có địa hình địa vật để lợi dụng, thì phải giả vờ bỏ chạy. Đối phương đuổi theo sẽ có kẻ nhanh người chậm, như vậy ta có thể chia nhỏ lực lượng của chúng thành từng nhóm nhỏ để tiêu diệt. Những kẻ nhanh nhất thường là hung hăng nhất, đánh gục những đứa này là bọn còn lại rét hết. Phải ra đòn dứt khoát và tàn độc cho bọn kia sợ hãi".

Bọn đào vàng thấy thái độ hoảng hốt của gã thanh niên càng hung hăng xông tới. Gã thanh niên rảo bước chạy loanh quanh khu đồi được một đoạn ngắn, liếc mắt nhìn lại phía sau thấy hai tên hung hăng nhất đã tới rất gần, cách bọn phía sau một khoảng cách kha khá, gã liền tạt sang phải một bước, bất ngờ dừng lại. Hai tên đuổi theo hơi bất ngờ vì con thú săn đã rời khỏi đường chạy và đột nhiên dừng bước. Chúng khựng lại một phần giây đồng hồ, rồi vung cuốc, xẻng lên ... Nhưng đã quá muộn. Ngay khi vừa tạt sang phải, dừng lại, vẫn quay lưng về phía địch thủ, chân trái của gã thanh niên đã giơ thẳng lên, người quay nửa vòng, vung chân thành một đường vòng cung, bổ một đòn Lôi phong cước sấm sét vào đầu tên đào vàng phía trái gã. Chỉ nghe một tiếng khục ghê rợn, xương hàm của tên đào vàng vỡ vụn bởi cạnh bàn chân đi giày vải và hắn gục xuống không kịp kêu một tiếng. Tay của tên bên phải chưa kịp vươn hết đà chuẩn bị cho một cú vụt cuốc, thì hắn đã lãnh trọn một đòn Kim tiêu cước vào hạ bộ, lăn ra giãy đành đạch. Cách ra đòn Kim tiêu cước của gã thanh niên gia dĩ cũng có chỗ độc đáo. Trong Thiếu lâm chính tông, khi ra đòn Kim tiêu cước, người đá co đầu gối lên, lợi dụng sức bật của hông, đùi, đầu gối và cổ chân để tung ức bàn chân hoặc mũi bàn chân hoặc mu bàn chân đá thẳng ra phía trước. Gã thanh niên không co đầu gối, mà ngay khi chân trái gã kết thúc đòn Lôi phong cước, bàn chân vừa chạm đất, gã đã bật chân lên tung thẳng đòn Kim tiêu cước vào đối thủ thứ hai. Tất nhiên, lối đá này có suy giảm chút ít về lực do không tận dụng được tối đa sức bật của đầu gối, nhưng gã đã có gần một chục năm rèn luyện ròng rã, mỗi ngày đá hàng trăm ngọn cước vào bao cát, gốc cây, cột đá và đủ các loại mục tiêu, nên sự suy giảm về lực là không đáng kể. Trong khi đó, tốc độ chớp nhoáng của lối đá này là điều cực kỳ quan trọng trong những trận đấu sinh tử với nhiều địch thủ, khi mà khoảnh khắc giữa sự sống và cái chết chỉ là một phần giây đồng hồ.

Hai tên bị hạ bằng hai ngọn cước không làm giảm sự hung hãn của bọn đào vàng say máu. Ba tên ở tốp tiếp theo đang đà chạy vẫn ào ào xông lại. Gã thanh niên lạng mình về phía trái, rút chân trái về phía sau, hơi nghiêng người chuẩn bị tung ra một đòn đá. Bỗng một thanh âm đơn điệu, buồn tẻ cách đó một đoạn cất lên: "Coi chừng Lưu vân cước". Gã thanh niên nhếch mép cười khẩy : "Quá muộn", chữ "muộn" chưa dứt, ức bàn chân phải của gã đi theo một đường vòng cầu đã giáng một đòn Lưu vân cước chí tử vào xương cạnh sườn của tên chạy đầu tiên. Chỉ nghe tiếng xương gãy rắc, rồi tên này gục xuống, miệng hộc ra một búng máu. Chân phải vừa chạm đất, gã thanh niên xoay người tung tiếp một đòn Hổ vĩ cước, gót chân trái tống thẳng vào giữa ức tên thứ hai, làm tên này văng ngược về sau mấy mét, xương ức gãy nát, nằm bẹp một đống. Tên thứ ba lúc này xông lại quá gần, thấy nguy hiểm nhưng chưa kịp phản ứng thì gã thanh niên đã dùng tay trái chạm nhẹ vào tay hắn làm cản đà vung của cán xẻng, tay phải tung một đòn Nanamé Shuto Uchi chém chéo cạnh bàn tay cứng như thép nguội vào hàm đối phương. Đòn Nanamé Shuto Uchi của gã thanh niên cũng không phải là một cú chém cạnh bàn tay thông thường của Karate, mà là một đòn sát thủ. Khi cạnh bàn tay phải của gã thanh niên chặt gãy hàm đối phương, thì ngón tay cái đang chĩa ra của gã cũng móc thẳng vào mi mắt hắn làm máu chảy ròng ròng. Lòng bàn tay trái của gã thanh niên vừa tì nhẹ vào cùi chỏ của tên đào vàng để chặn đà vung của cán xẻng, giờ vuốt ngược lên phía vai hắn, kết hợp bàn tay, cánh tay trước và khuỷu tay thành một đòn Atémi hiểm ác bẻ gãy tay phải tên đào vàng thành hai đoạn. Tay phải của gã thanh niên vừa rời khỏi hàm tên đào vàng liền tóm lấy tóc hắn kéo vào gần, tay trái của gã vẫn tiếp tục khóa cánh tay đã gãy của địch thủ, gã quay lưng đánh gót phải vào hạ bộ của kẻ xấu số, tiếp tục đà xoay kê hông vào ném hắn ra xa hai mét bằng một thế Uchi Mata của môn Nhu đạo.

Đám còn lại là lũ a dua, theo đóm ăn tàn, thấy tình trạng thê thảm của bọn cầm đầu, bỏ chạy thì dở, đứng lại cũng không xong, ngần ngừ chưa quyết, thì gã thanh niên đã nhảy vọt mấy bước lùi lại phía sau thật xa, phẩy tay về phía năm thân thể đang lăn lộn, rên rỉ trên mặt đất, cất giọng khinh bỉ : "Khiêng chúng nó đi cho khỏi bẩn mắt ông!".

Nhóm đào vàng xúm lại khiêng đồng bọn líu ríu chuồn mất.

Gã thanh niên nghĩ thầm "Giờ mình cũng phải chuồn, không bọn nó về lôi thêm cha con họ hàng ra đây là bỏ cụ." Gã quay bước định đi về phía đường cái để vẫy xe bus về thị trấn, thì lại thanh âm đơn điệu, buồn tẻ khi nãy cất lên "Khá lắm." Gã thanh niên giờ đây mới nhận ra tiếng nói cảnh báo về đòn Lưu vân cước của gã không phải phát ra từ bọn đào vàng. Nhìn về phía phải cách đó vài chục thước, gã thấy một người dân tộc trạc gần 30 tuổi nằm khuất dưới tán một bụi cây dại ven đồi, chân tay duỗi thoải mái, có vẻ như đang ngái ngủ. Mặc dù đang tìm cách chuồn cho sớm, thói hài hước của gã thanh niên cũng buộc hắn phải buột ra một đoạn giễu gã vẫn quen dùng: "Cảm ơn bác đã có lời khen. Vừa nãy nhà em có làm điều gì không phải, bác làm ơn bác niệm tình bỏ quá cho, em cảm ơn. Giờ kính bác ở lại, em ngược."

- Mày định đi đâu ?

Gã thanh niên nhíu mày "việc quái gì đến nó?", nhưng rồi cũng đáp:

- Em định đi bộ ra đường cái rồi vẫy xe bus về thị trấn.

- Đây ra đường cái cũng phải 6, 7 cây số, mày đi chưa được nửa đường thì xe Minxk của bọn đào vàng đã vây kín đường ra rồi.

Hùng tâm tráng chí của gã thanh niên bồng bột nổi lên:

- Ở lại thì chắc chắn chết. Ra đi thì may ra không chết. Ai mà chả có một lần, để em đi cho sớm chợ. Nếu có làm sao, ít nhất là hai chục mạng nữa cũng sẽ theo em.

- Đồ ngu. Bây giờ mày đi theo tao về nhà cho qua tối nay, rồi mai sớm tao dẫn mày theo đường mòn ra khỏi núi ở phía bên kia, khi đó mày tha hồ mà vẫy xe đi đâu tùy thích.

Vẫn quen chửi bới người khác là đồ ngu, nhưng do tính tình hào sảng, nên khi bị chửi, gã thanh niên cũng không lấy đó làm điều. Ngẫm nghĩ mấy giây, gã gật đầu:

- Em đi theo bác.

Hai người lầm lũi đi xuyên qua mấy vạt đồi về phía dãy núi, đến một căn lều tranh cô độc nằm trên lưng chừng dốc của một vách đá. Người dân tộc lẳng lặng thổi lửa, nấu cơm, hâm nồi thịt lợn bắc sẵn trên bếp, luộc qua quít một ít rau trong vườn nhà rồi dọn tất cả ra một ván gỗ. Gã quơ tay vào góc cột lôi ra một vò rượu, rót ra hai chiếc bát sành, bảo gã thanh niên:

- Ngồi vào đây ăn cơm với tao.

Gã thanh niên vốn quen cảnh sống lang bạt kỳ hồ, nay đây mai đó nên cũng không khách sáo:

- Vâng, em xin bác.

Họ ăn uống trong im lặng.

Được một lúc, sau một bát rượu xá nùng (**), gã thanh niên bắt đầu cảm thấy thoải mái hơn, lân la bắt chuyện:

- Sao hồi chiều bác nhận ra là em sắp tung ra đòn Lưu vân cước? Sự việc xảy ra chỉ trong chớp mắt, và từ trước đến nay, đối thủ của em chỉ nhận ra Lưu vân cước khi ngọn cước đã chạm vào người.

Người dân tộc chỉ mỉm cười, lắc đầu, rót thêm rượu vào hai chiếc bát. Sau khi hai người nhấm nháp một lúc lâu, người dân tộc mới lên tiếng:

- Mày khá lắm. Chỉ tiếc cái khí của mày còn hăng quá.

Gã thanh niên giật mình, hỏi:

- Sao bác nói thế ?

Ánh mắt người dân tộc mơ màng:

- Khi ra đòn, mày muốn nuốt sống người ta.

- Trong chiến đấu, chúng nó không chết thì em chết.

- Đành rằng là thế. Nhưng cái khí của mày có thể hăng thì cũng có thể nhụt. Mày để người khác nhìn thấy cái khí của mày, thì người ta cũng có thể dùng nó để làm hại mày.

Gã thanh niên giật mình thêm lần nữa :"Vẫn biết rằng trên vùng núi phía bắc có nhiều cao thủ võ lâm, tưởng chỉ về quyền cước, không ngờ lại có người uyên bác đến bậc này.". Gã mon men gạ gẫm:

- Thế bác có lời khuyên gì cho em không? Hay bác cho em xem vài đường quyền cước cho em học hỏi?

Người dân tộc lại im lặng uống rượu. Đêm về khuya. Bỗng người dân tộc từ từ đứng dậy:

- Tao mến mày, không muốn cái khí hăng của mày cản đường tiến bộ. Tao sẽ cho mày xem một quả đấm.

Gã thanh niên vẫn còn cái bồng bột của thanh niên 18, nghĩ thầm :"Tưởng gì, một kẻ rèn luyện gần chục năm trời, qua toàn bộ bộ tay của Karate, Thiếu lâm Nam phái, 108 thế biến hóa của Vĩnh Xuân,các quả đấm của môn Quyền Anh và các thế tay của võ thuật công an thì còn lạ quái gì quả đấm." Tuy nghĩ thế, nhưng bề ngoài gã vẫn lạnh lùng, ung dung đứng dậy.

Trong căn lều chật hẹp, hai người đứng cách nhau khoảng trên hai mét. Người dân tộc lên tiếng:

- Bây giờ mày có thể dùng bất kỳ đòn thế gì tùy thích để đỡ, tao chỉ đấm mày một quả vào mặt.

Gã thanh niên mỉm cười, nghĩ thầm "Mình đã biết trước cả mục tiêu thế này thì còn gì mà đánh nữa.". Tuy thế, gã vẫn cẩn thận:

- Bác nhẹ tay cho.

Đoạn gã rút chân phải về phía sau, hai chân hơi chùng xuống, hai tay thủ phía trước theo thế tấn Trắc thân kiềm dương mã của môn Vĩnh Xuân. Người dân tộc cũng vào một thế đứng hơi chùng người, mộc mạc, trông có vẻ không ra một tư thế gì cả. Gã thanh niên nhìn thẳng vào mắt đối thủ, nghĩ thầm :" Hiện giờ mình còn ở ngoài cả tầm đá. Hắn muốn đấm tất phải tiến lại gần. Dù phản xạ của hắn nhanh đến mấy, thì mình cũng thừa thời gian dùng đòn Nami Gaeshi chặn cạnh bàn chân vào đầu gối làm hắn không tiến sát vào được, hoặc dùng một ngọn cước đá thẳng vào hắn khi hắn chưa tới tầm đấm. Hắn nói chỉ đấm một lần, mình đẩy lui hắn một lần là ổn."

Giác quan gã thanh niên cảnh giác cực độ, tinh thần tỉnh táo, thân thể thả lỏng, hơi thở điều hòa. Không gian vắng lặng,chỉ có tiếng côn trùng kêu rả rích trong đêm. Không rõ do trời đêm hay điều gì, gã thanh niên bỗng thấy nôn nao một phần giây đồng hồ, rồi gã nhận ra người dân tộc đang di chuyển vào trong tầm đấm. Một quả đấm tay phải từ từ tung ra bay thẳng vào mặt gã. Gã thanh niên nhìn thấy quả đấm từ từ tiến tới khuôn mặt mình, nhưng không kịp đỡ. Bộp một tiếng, quả đấm đập khẽ vào mặt gã. Gã thanh niên bàng hoàng sửng sốt. Đành rằng nếu quả đấm nhanh như chớp giật, gã không kịp đỡ thì ra một nhẽ. Đằng này gã thấy quả đấm bay lại từ từ, đến lúc muốn phản ứng thì lại không kịp.

Người dân tộc lui ra, bật cười thành tiếng:

- Tự nhiên như cây cỏ, như đá, như nước, như mây, thì đối thủ không thấy mày làm gì, không biết mày ở đâu, không có cách nào tránh được.

Hai người uống thêm một vài bát rượu rồi mỗi người một góc ngủ say như chết. Sáng hôm sau, người dân tộc đưa gã thanh niên xuống núi.

HẾT.

Chú thích

(*) Cục cảnh vệ K10 là đơn vị bảo vệ lãnh tụ của Việt nam. Các giáo viên võ thuật của đơn vị này hàng năm thường được gửi đi Trung quốc, Triều tiên, Nhật bản, Nga để tu nghiệp về võ thuật, chủ yếu là các đòn thế sát thủ, giết người trong nháy mắt và kỹ thuật chiến đấu cận chiến. Ngoài võ thuật và kỹ thuật sử dụng vũ khí, các giáo viên còn phải học tập về chiến thuật chiến đấu trong các địa hình khác nhau trong thành phố cũng như ở nông thôn, rừng núi ...

(**) Rượu xá nùng, có nơi còn gọi là rượu sắn lùng, sá lùng ..., tác giả truyện ngắn này đã từng lang thang khắp vùng rừng núi Tây Bắc Việt nam, thấy nhiều nơi gọi tên khác nhau, nên không biết tên nào chính xác, là loại rượu của người dân tộc được nấu bằng gạo nếp hoa vàng.

Các tình tiết khác có thể là bốc phét, nhưng riêng chi tiết về quả đấm chậm của người dân tộc, chính tác giả của truyện ngắn này đã chứng kiến vào khoảng hơn 13 năm về trước trong vùng núi rừng Hoàng Liên Sơn.